Cool Eczema Cures images

Posted on 01. Jan, 2014 by in Uncategorized

Check out these eczema cures images:

Leaves of Calophyllum inophyllum …Lá Mù U …
eczema cures
Image by Vietnam Plants & The USA. plants
Chụp ở Long An, gần sông Vàm cỏ Đông .
Taken in Long An province, near Vàm cỏ Đông river .

Vietnamese named : Mù U, Cồng, Hồ Đồng
English names : Ballnut, Alexandrian Laurel
Scientist name : Calophyllum inophyllum L.
Synonyms :
Family : Clusiaceae. Họ Bứa ( Họ Măng Cục )

Searched from :

**** VIETGLE.VN.
www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=NzhDMzA4MEMwQQ…

Calophyllum inophyllum L. – Mù u, Cồng, Hồ đồng.
Cây to cao tới 20 – 25m, đường kính trung bình 30 – 35cm. Cành non nhẵn, tròn. Lá lớn, mọc đối, phiến lá thuôn, dài đến 15 – 17cm, rộng 5 – 8cm, mỏng; gân bên nhiều, nhỏ, song song và gần như thẳng góc với gân chính, nổi rõ ở hai mặt; cuống lá dày và bẹt.
Cụm hoa chùm ở nách lá hay ở ngọn cành gồm 5 – 16 hoa, thường là 9. Hoa màu trắng hay vàng cam, có 4 lá dài, 4 cánh hoa, nhiều nhị xếp thành 4 – 6 bó, bầu một lá noãn với 1 noãn đính gốc, 1 vòi nhụy. Quả hạch hình cầu hay hình trứng to đến 3cm, khi chín màu vàng nhạt, chứa một hạt có vỏ dày và một lá mầm lớn đầy dầu.

Loài của Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Nam Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia đến châu Đại Dương. Ở nước ta, có gặp từ Hải Phòng vào đến vùng bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu.
Cây mọc hoang dọc theo các sông rạch vùng đồng bằng ven biển. Cũng thường được trồng làm cây bóng mát dọc đường phố như ở Quảng Ninh (Quảng Yên) và Hải Phòng (Kiến An)… và cây lấy dầu ở nhiều nơi .
Mùa hoa tháng 2 – 6, mùa quả chín tháng 10 – 12.
Hạt mù u chứa 26 – 51% dầu, riêng nhân hạt chứa 50,2 – 73% dầu; dầu này gồm 71,5 – 90,3% dầu béo và 9,7 – 28,5% nhựa.
Dầu mù u là một vecni tự nhiên tốt; thành phần chính của dầu là acid linoleic và acid oleic (70%), có nhóm epoxy… Dầu này được sử dụng làm xà phòng loại xấu, dầu thắp sáng và còn được dùng để sản xuất epoxy, làm chất hóa dẻo và dùng trong công nghiệp sơn, vecni.
Gỗ mù u màu đỏ nâu, thuộc loại gỗ cứng được sử dụng để đóng thuyền và làm cột buồm. Mù u còn là cây chống gió và chống cát bay ở vùng ven biển.
Nhiều bộ phận của cây được dùng làm thuốc. Nhựa mù u dùng bôi làm tan các chỗ sưng tấy, chữa họng sưng không nuốt được, cam răng tẩu mã thối loét và các mụn tràng nhạc không tiêu, các mụn nhọt, vết loét nhiễm trùng, tai có mủ. Dầu mù u dùng trị ghẻ, nấm tóc và các bệnh về da nói chung, chữa viêm dây thần kinh trong bệnh cùi, các vết thương. Cũng dùng bôi trị thấp khớp.
Mủ dùng ngoài để làm lành sẹo, nhất là để trị bỏng. Vỏ cây dùng trị bệnh đau dạ dày và xuất huyết bên trong. Gỗ cây dùng thay nhựa. Rễ dùng chữa viêm chân răng.
Dầu thường dùng bôi. Nhựa và vỏ cây dùng dưới dạng bột. Người ta chế các sản phẩm của Mù u thành dạng xà phòng, thuốc mỡ, cao dán, thuốc viên.

**** CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH.COM
docs.google.com/viewer?a=v&q=cache:SuR09zvtVo0J:www.c…

DẦU MÙ U (CALOPHYLLUM INOPHYLLUM)
DÙNG LÀM KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT
VIÊM XƯƠNG – TỦY KHÔNG ĐẶC HIỆU
Nguyễn Quang Long(*)
Giải thưởng Tôn Thất Tùng
Sau chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, một trong các vấn đề nổi
bật của y tế nước ta: Viêm xương – tủy không đặc hiệu:
 Hậu quả của các gãy xương do bom đạn qua 2 cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước.
 Bệnh viêm xương – tủy đường máu, một bệnh xã hội ở nước ta.
Khoa Chấn Thương – Chỉnh Hình (bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức (1975) đã đề xuất
phương hướng giải quyết:
 Cắt đoạn rộng vùng xương viêm chịu mất đoạn xương.
 Sau đó: ghép xương phục hồi.
Công trình nghiên cứu toàn diện về dầu mù u của các nhà nghiên cứu y, dược (trường
Đại Học Y Dược – Viện Y Dược Học Dân Tộc – Thành phố Hồ Chí Minh).
Các kết quả bước đầu nghiên cứu và ứng dụng Dầu Mù U (Tổng quan và chuyên khảo
ngắn Y Dược số 37/1988).
Kết luận của Nhóm nghiên cứu Khoa – Bộ môn Chấn Thương – Chỉnh Hình (Chủ
nhiệm GS Nguyễn Quang Long – Đại Học Y Dược).
 Dầu mù u: một thuốc kháng viêm và chống đau đắp tại chổ hiệu quả rõ rệt, chỉ định
rộng rãi cho cả các vùng viêm tấy có vết thương
 Dầu mù u: thuốc đắp tuyệt hảo chữa các vết thương, vết bỏng có các đặc tính:
 Giảm đau.
 Kích thích mọc mô hạt nhanh.
 Tạo một sẹo da mềm mại.
 Dầu mù u có tính kháng khuẩn, với MIC = 0,4 (đối với các vi khuẩn cả gram dương
và gram âm).
Phương pháp phẫu thuật Papineau điều trị viêm xương – tủy:
 Qui tắc: Theo 2 thì (cách nhau 1 – 2 tuần lễ):
 Thì 1:
Đục bỏ, cắt lọc triệt để ổ viêm.
Để hở hoàn toàn.
Băng gạc tullegras và xối phun rửa huyết thanh sinh lý mỗi ngày.
 Thì 2:
Ghép xương xốp tự thân (cắt nhỏ) để kích thích mô hạt mọc che phủ.
Băng gạc tulle gras và phun rửa huyết thanh sinh lý.
Tự liền sẹo hoặc ghép da tự do.
(Kháng sinh dùng liên tục đến 1-2 tuần lễ sau ghép xương).
Điều trị viêm xương theo phẫu thuật Papineau cải tiến: (Nguyễn Quang Long 1983)

**** WIKI TIẾNG VIỆT
vi.wikipedia.org/wiki/Mù_u

**** VHO.VN.
vho.vn/view.htm?ID=2791&keyword=Tóc

Cây ra hoa tháng 2-6, có quả tháng 10-12.

Bộ phận dùng: Hạt, dầu hạt, nhựa cây, rễ, lá – Semen, Oleum, Resina, Radix et Folium Calophylli Inophylli.

Nơi sống và thu hái: Cây của miền Malaixia, châu Ðại dương, cũng mọc hoang ở nước ta, thường được trồng làm cây bóng mát. Thu hái quả tốt nhất vào lúc cây có 7-10 năm tuổi; quả chín rụng rồi khô vỏ sẽ cho nhiều dầu nhất. Nên thu từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Hạt dùng tươi hay ép lấy dầu. Nhựa thu quanh năm, phơi khô, tán bột. Rễ, lá thu hái quanh năm, phơi khô.

Thành phần hóa học: Nhân hạt chứa 50,2-73% dầu; vỏ hạt chứa (-+) leucocyanidin, vỏ cây chứa 11,9% tanin, acid hữu cơ, saponin triterpen, phytosterol, tinh dầu, coumarin. Mủ của quả có một phần không tan trong cồn gồm các glycerid, và phần tan trong cồn chứa tinh dầu, nhựa và các lacton phức hợp (dẫn xuất coumarin): calophyllolid, mophyllolid, acid calophyllic. Chất calophyllolid có tính chất chống đông máu như các coumarin khác. Lá chứa saponin và acid hydrocyanic.

Tính vị, tác dụng: Nhựa Mù u có vị mặn, tính rất lạnh; có tác dụng gây nôn, giải các loại ngộ độc, bụng trướng đầy. Dầu Mù u có tác dụng tiêu sưng, giảm đau, sát trùng, cầm máu. Vỏ se, làm săn da. Lá độc đối với cá.

Công dụng: Nhựa Mù u dùng bôi làm tan các chỗ sưng tấy, chữa họng sưng không nuốt được, cam răng tẩu mã thối loét và các mụn tràng nhạc không tiêu, các mụn nhọt, vết loét nhiễm trùng, tai có mủ. Dầu Mù u dùng trị ghẻ, nấm tóc và các bệnh về da nói chung, chữa viêm dây thần kinh trong bệnh cùi, các vết thương. Cũng dùng bôi trị thấp khớp.

Mủ dùng ngoài để làm lành sẹo, nhất là để trị bỏng. Vỏ cây dùng trị bệnh đau dạ dày và xuất huyết bên trong. Gỗ cây dùng thay nhựa. Rễ dùng chữa viêm chân răng.

Cách dùng: Dầu thường dùng bôi. Nhựa và vỏ cây dùng dưới dạng bột. Người ta đã chế các sản phẩm của Mù u thành dạng xà phòng, thuốc mỡ, cao dầu, thuốc viên.

Ðơn thuốc:

1. Ðau dạ dày: Bột vỏ Mù u 20g, bột Cam thảo nam 14g, bột Quế 1g, tá dược vừa đủ làm thành 100 viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 viên.

2. Mụn nhọt, lở, ghẻ: Hạt Mù u giã nhỏ, thêm vôi, đun sôi để nguội làm thuốc bôi. Hoặc dầu Mù u trộn với vôi, chưng nóng lên để bôi.

3. Giải độc: Hoà nhựa vào nước, uống nhiều lần thì mửa ra. Nếu không có nhựa thì dùng 120g gỗ chẻ nhỏ sắc uống nhiều lần.

4. Cam tẩu mã, viêm răng thối loét: Nhựa Mù u trộn với bột Hoàng đơn bôi liên tục vào chân răng.

5. Răng chảy máu hay lợi răng tụt xuống, chân răng lộ ra: Rễ Mù u và rễ Câu kỷ (Rau khởi) liều lượng bằng nhau, sắc nước ngậm nhiều lần.

6. Phong thấp đau xương và thận hư đau lưng hoặc bị thương đau nhức: Rễ Mù u 40g sắc uống.

**** MINHTAMVIETNAM : DẦU MÙ U, DƯỢC LIỆU QUÝ
www.minhtamvietnam-japan.com/node/25
Mù u đã được biết đến từ hàng ngàn năm trước tại quần đảo Tahiti. Mù u có nhiều chủng loại, trong đó loại Calophyllum inophyllum được chú ý nhiều nhất, quả nhỏ cho hạt gọi là tamanu chứa chất dầu màu xanh lục, có mùi thơm. Mù u cũng là một dược liệu dân gian được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.
Dầu Mù U – Một dược liệu dân gian quý
Mù u đã được biết đến từ hàng ngàn năm trước tại quần đảo Tahiti. Mù u có nhiều chủng loại, trong đó loại Calophyllum inophyllum được chú ý nhiều nhất, quả nhỏ cho hạt gọi là tamanu chứa chất dầu màu xanh lục, có mùi thơm. Mù u cũng là một dược liệu dân gian được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.

DẦU MÙ U DÙNG THEO KINH NGHIỆM DÂN GIAN
Từ xưa, người Tahiti đã sớm khám phá ra những hạt Mù u khô có chứa dầu và tìm cách ly trích để dùng vào việc săn sóc, bảo vệ da chống lại các tác nhân gây tổn hại như ánh nắng, độ ẩm cao, gió biển.
Qua kinh nghiệm thực tế, dầu Mù u đã trở thành phương thuốc và mỹ phẩm dân gian chăm sóc bảo vệ da, là sản phẩm thiên nhiên giúp chống nắng và làm ẩm da. Với những tác dụng ấy, người ta đã chú ý bảo vệ cây Mù u, thu hái hạt và xem đó là món quà tặng quí giá của thiên nhiên. Phụ nữ Tahiti dùng dầu Mù u hàng ngày như chất làm ẩm da, làm mỹ phẩm bôi lên mặt và thân thể.

CÔNG DỤNG CỦA DẦU MÙ U

Theo y học cổ truyền, dầu Mù u có tác động mạnh làm giảm đau thần kinh tọa, đau dây thần kinh, đau khớp xương và đau thần kinh do bệnh phong. Năm 1918, các nhà khoa học Pháp bắt đầu nghiên cứu về tác dụng tại chỗ đối với da của dầu Mù u và ghi nhận đặc tính làm liền da của nó. Y văn của Pháp đã ghi nhận nhiều trường hợp sử dụng thành công dầu Mù u trong điều trị các bệnh lý về da. Điển hình là một phụ nữ vào bệnh viện St. Louis tại Paris với tình trạng loét hoại thư ở chân dai dẳng không lành và việc cắt bỏ chân là điều khó tránh khỏi. Trong thời gian chờ đợi cắt bỏ chân, hàng ngày bệnh nhân được cho đắp dầu Mù u. Kết quả vết thương lành dần và khỏi hoàn toàn, chỉ để lại một vết sẹo phẳng, nhỏ. Trong những trường hợp khác, dầu Mù u đã sử dụng thành công để làm lành những vết bỏng nặng do nước sôi, hóa chất hoặc X-quang
THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA DẦU MÙ U
Dầu Mù u chứa 3 nhóm lipid căn bản: lipid trung tính, glycolipid và phospholipid; Một acid béo gọi là calophyllic acid; Một chất kháng sinh mang vòng lactone và một chất kháng viêm không steroid gọi là calophyllolide. Ngoài ra còn có chất kháng viêm coumarine đã tạo nên những hoạt tính bảo vệ sức khỏe. Vì thế dầu Mù u có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm và giảm đau. Đặc tính làm liền sẹo và giảm đau chưa được giải thích trong y văn dù đã được công nhận.
DẦU MÙ U VÀ THÀNH PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG
Từ thập niên 20 của thế kỷ trước, dầu Mù u đã được dùng tại Fiji để làm giảm sự đau nhức thần kinh trong bệnh phong. Nữ tu Marie-Suzanne thuộc dòng thánh Mary đã dùng dầu Mù u (được gọi là Dolno, tức không đau) để bôi lên sang thương người bị bệnh phong và cho kết quả tốt. Từ kết quả lâm sàng tại Fiji, dầu Mù u nhanh chóng được nghiên cứu tại Pháp vào thập niên 30 trong điều trị đau dây thần kinh và tiếp tục được quan tâm về tác dụng làm liền sẹo.
– Dầu Mù u được dùng trong các bệnh lý da và mỹ phẩm nhờ tính thẩm thấu qua da tốt, có mùi thơm, làm sáng da nên thường được đưa vào các thành phẩm dạng nước (dầu massage), kem, pommad và các mỹ phẩm khác. dầu Mù u có tiềm năng lớn trên thị trường các sản phẩm trị bệnh ngoài da lẫn trong kỹ nghệ mỹ phẩm.
– Các nghiên cứu khoa học liên quan đến dầu Mù u đã có từ năm 1920 nhưng nhiều năm sau mới được sử dụng rộng rãi, nhất là tại Tahiti – nơi mà dầu Mù u được tiếp thị cho các dịch vụ săn sóc ban đầu ngoài da và hỗ trợ sắc đẹp.
– Tại châu Âu, dù là một sản phẩm còn mới mẻ nhưng dầu Mù u đã được nhiều công ty đưa vào các công thức sản phẩm. Dầu Mù u có thể được sử dụng nguyên chất hoặc pha loãng 50% với dầu dừa hoặc dung môi thích hợp khác mà không làm giảm hiệu lực.
– Trong ngành mỹ phẩm, dầu Mù u sử dụng phải thật tinh khiết để bảo đảm thích hợp cho mọi loại da, hấp thu nhanh, làm mềm da mà không để lại vết trơn láng của dầu.
– Trong tương lai, dầu Mù u có thể kết hợp với vitamin E, aloes vera (cây lô hội, tức nha đam) để tạo nên các sản phẩm săn sóc da. Hiện nay đã có nhiều công ty sản xuất dầu Mù u đóng chai như Cty Tinh Dầu Thiên Nhiên Natural, Active Botanicals, Pure World Botanicals…
– Một số công trình nghiên cứu khoa học về dầu Mù u đã được công bố tại châu Âu và Mỹ. Người ta còn phối hợp dầu Mù u với các chất khác để sản xuất loại mỹ phẩm dùng dưới dạng lotion, kem, dầu mat-xa. Ở nước ta cũng đã có sản phẩm Trăn – Mù u đóng chai 15ml. Trong tương lai, các sản phẩm có chứa dầu Mù u để điều trị và làm đẹp da có thể sẽ tạo nên một thị trường giàu tiềm năng.

________________________________________________________

**** WIKI
en.wikipedia.org/wiki/Calophyllum_inophyllum

Calophyllum inophyllum is a large evergreen. It is native from East Africa, southern coastal India to Malesia and Australia.
Distribution and description

Nowadays it is widely cultivated in all tropical regions of the world, including several Pacific Islands. Because of its decorative leaves, fragrant flowers and spreading crown, it is best known as an ornamental plant.
It is a low-branching and slow-growing tree with a broad and irregular crown. It usually reaches 8 to 20 metres (26 to 66 ft) in height. The flower is 25 millimetres (0.98 in) wide and occurs in racemose or paniculate inflorescences consisting of 4 to 15 flowers. Flowering can occur year-round, but usually two distinct flowering periods are observed, in late spring and in late autumn. The fruit (the ballnut) is a round, green drupe reaching 2 to 4 centimetres (0.79 to 1.6 in) in diameter and having a single large seed. When ripe, the fruit is wrinkled and its color varies from yellow to brownish-red.
This tree often grows in coastal regions as well as nearby lowland forests. However it has also been cultivated successfully in inland areas at moderate altitudes. It tolerates varied kinds of soil, coastal sand, clay or even degraded soil.

Uses

Besides being a popular ornamental plant, its wood is hard and strong and has been used in construction or boatbuilding. Traditional Pacific Islanders used Calophyllum wood to construct the keel of their canoes while the boat sides were made from breadfruit (Artocarpus altilis) wood. The seeds yield a thick, dark green oil for medicinal use or hair grease. Active ingredients in the oil are believed to regenerate tissue, so is sought after by cosmetics manufacturers as an ingredient in skin cremes. The nuts should be well dried before cracking, after which the oil-laden kernel should be further dried. The first neoflavone isolated in 1951 from natural sources was calophyllolide from Calophyllum inophyllum seeds[5].

The fatty acid methyl ester of Calophyllum inophyllum seed oil meets the major biodiesel requirements in the United States (ASTM D 6751), and European Union (EN 14214). The average oil yield is 11.7 kg-oil/tree or 4680 kg-oil/hectare
The tree is regarded as sacred in some Pacific islands because of its excellent growth in sandy soil as shade tree and many uses.
In the northwest coastal areas of Luzon island in Philippines, the oil was used for night lamps. It creates a relaxing aroma. This widespread use starded to decline when kerosene became available, and later on electricity.
It was also used as fuel to generate electricity to provide power for radios during World War II.

**** AGROFORESTRY
www.agroforestry.net/tti/Calophyllum-kamani.pdf

**** PLANTS OF HAWAII
www.hear.org/starr/images/species/?q=calophyllum+inophyll…

**** USDA PLANTS PROFILE
plants.usda.gov/java/profile?symbol=CAIN4

**** ASIANPLANTNET
www.asianplant.net/Clusiaceae/Calophyllum_inophyllum.htm
Synonyms
Balsamaria inophyllum Lour., Calophyllum bintagor Roxb., Calophyllum blumei Wight, Calophyllum inophyllum var. blumei (Wight) Hassk., Calophyllum inophyllum forma oblongata Miq., Calophyllum inophyllum forma obovata Miq., Calophyllum inophyllum var. takamaka Fosberg, Calophyllum ovatifolium Norona, Calophyllum wakamatsui Kanehira

**** RIGHTHEALTH.COM
www.righthealth.com/topic/tamanu_(_calophyllum_inophyllum…
Tamanu or Calophyllum Inophyllum is known to produce oil with healing prowess. The Tamanu tree could be found, primarily, in Southeast Asia: Thailand, Vietnam, Myanmar, Malaysia, South India, Sri Lanka, and the Melanesian and Polynesian islands. Furthermore, many claim of the antineuralgic, anti-inflammatory, antimicrobial, antibiotic, and antioxidant properties of Tamanu’s oil, thus its popularity increased. The Tamanu trees produce fragrant, white flowers twice annually and these yield clustered yellow-skinned spherical fruit, which a large nut in the middle. An odourless pale kernel can be found in the nut. The oil is produced when the kernel is dried in the sun for two months until it becomes sticky, producing a dark, thick, rich oil.
Moreover, Tamanu oil is relevant in wound healing and growth of healthy skin as it is said to help form new tissue, and this process is referred to as cicatrization. It is of this healing power that the oil has been used as a topical remedy for skin conditions such as cuts, scrapes, burns, insect bites and stings, abrasions, acne and acne scars, psoriasis, diabetic sores, anal fissures, sunburn, dry or scaly skin, blisters, eczema, herpes sores, and to reduce foot and body odour, neuralgia, rheumatism and sciatica. Traditionally, the Tamanu oil has been used as relief for inflamed eyes or heatstroke. Moreover, in the Philippines, the oil found its use as an astringent for haemorrhoids and in Dobu Island, the solution from the boiled leaves is used to wash skin rashes. The oil, as claimed, cures a number of diseases including infections, abscesses, pneumonias, diphtheria, among the many other diseases. Lastly, the oil has also been added in some cosmetic products such as creams, lotions, topical ointments, etc.

Flowers of Calophylla inophyllum …Hoa Mù U …
eczema cures
Image by Vietnam Plants & The USA. plants
Chụp ở Long An, gần sông Vàm cỏ Đông .
Taken in Long An province, near Vàm cỏ Đông river .

Vietnamese named : Mù U, Cồng, Hồ Đồng
English names : Ballnut, Alexandrian Laurel
Scientist name : Calophyllum inophyllum L.
Synonyms :
Family : Clusiaceae. Họ Bứa ( Họ Măng Cục )

Searched from :

**** VIETGLE.VN.
www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=NzhDMzA4MEMwQQ…

Calophyllum inophyllum L. – Mù u, Cồng, Hồ đồng.
Cây to cao tới 20 – 25m, đường kính trung bình 30 – 35cm. Cành non nhẵn, tròn. Lá lớn, mọc đối, phiến lá thuôn, dài đến 15 – 17cm, rộng 5 – 8cm, mỏng; gân bên nhiều, nhỏ, song song và gần như thẳng góc với gân chính, nổi rõ ở hai mặt; cuống lá dày và bẹt.
Cụm hoa chùm ở nách lá hay ở ngọn cành gồm 5 – 16 hoa, thường là 9. Hoa màu trắng hay vàng cam, có 4 lá dài, 4 cánh hoa, nhiều nhị xếp thành 4 – 6 bó, bầu một lá noãn với 1 noãn đính gốc, 1 vòi nhụy. Quả hạch hình cầu hay hình trứng to đến 3cm, khi chín màu vàng nhạt, chứa một hạt có vỏ dày và một lá mầm lớn đầy dầu.

Loài của Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Nam Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia đến châu Đại Dương. Ở nước ta, có gặp từ Hải Phòng vào đến vùng bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu.
Cây mọc hoang dọc theo các sông rạch vùng đồng bằng ven biển. Cũng thường được trồng làm cây bóng mát dọc đường phố như ở Quảng Ninh (Quảng Yên) và Hải Phòng (Kiến An)… và cây lấy dầu ở nhiều nơi .
Mùa hoa tháng 2 – 6, mùa quả chín tháng 10 – 12.
Hạt mù u chứa 26 – 51% dầu, riêng nhân hạt chứa 50,2 – 73% dầu; dầu này gồm 71,5 – 90,3% dầu béo và 9,7 – 28,5% nhựa.
Dầu mù u là một vecni tự nhiên tốt; thành phần chính của dầu là acid linoleic và acid oleic (70%), có nhóm epoxy… Dầu này được sử dụng làm xà phòng loại xấu, dầu thắp sáng và còn được dùng để sản xuất epoxy, làm chất hóa dẻo và dùng trong công nghiệp sơn, vecni.
Gỗ mù u màu đỏ nâu, thuộc loại gỗ cứng được sử dụng để đóng thuyền và làm cột buồm. Mù u còn là cây chống gió và chống cát bay ở vùng ven biển.
Nhiều bộ phận của cây được dùng làm thuốc. Nhựa mù u dùng bôi làm tan các chỗ sưng tấy, chữa họng sưng không nuốt được, cam răng tẩu mã thối loét và các mụn tràng nhạc không tiêu, các mụn nhọt, vết loét nhiễm trùng, tai có mủ. Dầu mù u dùng trị ghẻ, nấm tóc và các bệnh về da nói chung, chữa viêm dây thần kinh trong bệnh cùi, các vết thương. Cũng dùng bôi trị thấp khớp.
Mủ dùng ngoài để làm lành sẹo, nhất là để trị bỏng. Vỏ cây dùng trị bệnh đau dạ dày và xuất huyết bên trong. Gỗ cây dùng thay nhựa. Rễ dùng chữa viêm chân răng.
Dầu thường dùng bôi. Nhựa và vỏ cây dùng dưới dạng bột. Người ta chế các sản phẩm của Mù u thành dạng xà phòng, thuốc mỡ, cao dán, thuốc viên.

**** CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH.COM
docs.google.com/viewer?a=v&q=cache:SuR09zvtVo0J:www.c…

DẦU MÙ U (CALOPHYLLUM INOPHYLLUM)
DÙNG LÀM KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT
VIÊM XƯƠNG – TỦY KHÔNG ĐẶC HIỆU
Nguyễn Quang Long(*)
Giải thưởng Tôn Thất Tùng
Sau chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, một trong các vấn đề nổi
bật của y tế nước ta: Viêm xương – tủy không đặc hiệu:
 Hậu quả của các gãy xương do bom đạn qua 2 cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước.
 Bệnh viêm xương – tủy đường máu, một bệnh xã hội ở nước ta.
Khoa Chấn Thương – Chỉnh Hình (bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức (1975) đã đề xuất
phương hướng giải quyết:
 Cắt đoạn rộng vùng xương viêm chịu mất đoạn xương.
 Sau đó: ghép xương phục hồi.
Công trình nghiên cứu toàn diện về dầu mù u của các nhà nghiên cứu y, dược (trường
Đại Học Y Dược – Viện Y Dược Học Dân Tộc – Thành phố Hồ Chí Minh).
Các kết quả bước đầu nghiên cứu và ứng dụng Dầu Mù U (Tổng quan và chuyên khảo
ngắn Y Dược số 37/1988).
Kết luận của Nhóm nghiên cứu Khoa – Bộ môn Chấn Thương – Chỉnh Hình (Chủ
nhiệm GS Nguyễn Quang Long – Đại Học Y Dược).
 Dầu mù u: một thuốc kháng viêm và chống đau đắp tại chổ hiệu quả rõ rệt, chỉ định
rộng rãi cho cả các vùng viêm tấy có vết thương
 Dầu mù u: thuốc đắp tuyệt hảo chữa các vết thương, vết bỏng có các đặc tính:
 Giảm đau.
 Kích thích mọc mô hạt nhanh.
 Tạo một sẹo da mềm mại.
 Dầu mù u có tính kháng khuẩn, với MIC = 0,4 (đối với các vi khuẩn cả gram dương
và gram âm).
Phương pháp phẫu thuật Papineau điều trị viêm xương – tủy:
 Qui tắc: Theo 2 thì (cách nhau 1 – 2 tuần lễ):
 Thì 1:
Đục bỏ, cắt lọc triệt để ổ viêm.
Để hở hoàn toàn.
Băng gạc tullegras và xối phun rửa huyết thanh sinh lý mỗi ngày.
 Thì 2:
Ghép xương xốp tự thân (cắt nhỏ) để kích thích mô hạt mọc che phủ.
Băng gạc tulle gras và phun rửa huyết thanh sinh lý.
Tự liền sẹo hoặc ghép da tự do.
(Kháng sinh dùng liên tục đến 1-2 tuần lễ sau ghép xương).
Điều trị viêm xương theo phẫu thuật Papineau cải tiến: (Nguyễn Quang Long 1983)

**** WIKI TIẾNG VIỆT
vi.wikipedia.org/wiki/Mù_u

**** VHO.VN.
vho.vn/view.htm?ID=2791&keyword=Tóc

Cây ra hoa tháng 2-6, có quả tháng 10-12.

Bộ phận dùng: Hạt, dầu hạt, nhựa cây, rễ, lá – Semen, Oleum, Resina, Radix et Folium Calophylli Inophylli.

Nơi sống và thu hái: Cây của miền Malaixia, châu Ðại dương, cũng mọc hoang ở nước ta, thường được trồng làm cây bóng mát. Thu hái quả tốt nhất vào lúc cây có 7-10 năm tuổi; quả chín rụng rồi khô vỏ sẽ cho nhiều dầu nhất. Nên thu từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Hạt dùng tươi hay ép lấy dầu. Nhựa thu quanh năm, phơi khô, tán bột. Rễ, lá thu hái quanh năm, phơi khô.

Thành phần hóa học: Nhân hạt chứa 50,2-73% dầu; vỏ hạt chứa (-+) leucocyanidin, vỏ cây chứa 11,9% tanin, acid hữu cơ, saponin triterpen, phytosterol, tinh dầu, coumarin. Mủ của quả có một phần không tan trong cồn gồm các glycerid, và phần tan trong cồn chứa tinh dầu, nhựa và các lacton phức hợp (dẫn xuất coumarin): calophyllolid, mophyllolid, acid calophyllic. Chất calophyllolid có tính chất chống đông máu như các coumarin khác. Lá chứa saponin và acid hydrocyanic.

Tính vị, tác dụng: Nhựa Mù u có vị mặn, tính rất lạnh; có tác dụng gây nôn, giải các loại ngộ độc, bụng trướng đầy. Dầu Mù u có tác dụng tiêu sưng, giảm đau, sát trùng, cầm máu. Vỏ se, làm săn da. Lá độc đối với cá.

Công dụng: Nhựa Mù u dùng bôi làm tan các chỗ sưng tấy, chữa họng sưng không nuốt được, cam răng tẩu mã thối loét và các mụn tràng nhạc không tiêu, các mụn nhọt, vết loét nhiễm trùng, tai có mủ. Dầu Mù u dùng trị ghẻ, nấm tóc và các bệnh về da nói chung, chữa viêm dây thần kinh trong bệnh cùi, các vết thương. Cũng dùng bôi trị thấp khớp.

Mủ dùng ngoài để làm lành sẹo, nhất là để trị bỏng. Vỏ cây dùng trị bệnh đau dạ dày và xuất huyết bên trong. Gỗ cây dùng thay nhựa. Rễ dùng chữa viêm chân răng.

Cách dùng: Dầu thường dùng bôi. Nhựa và vỏ cây dùng dưới dạng bột. Người ta đã chế các sản phẩm của Mù u thành dạng xà phòng, thuốc mỡ, cao dầu, thuốc viên.

Ðơn thuốc:

1. Ðau dạ dày: Bột vỏ Mù u 20g, bột Cam thảo nam 14g, bột Quế 1g, tá dược vừa đủ làm thành 100 viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 viên.

2. Mụn nhọt, lở, ghẻ: Hạt Mù u giã nhỏ, thêm vôi, đun sôi để nguội làm thuốc bôi. Hoặc dầu Mù u trộn với vôi, chưng nóng lên để bôi.

3. Giải độc: Hoà nhựa vào nước, uống nhiều lần thì mửa ra. Nếu không có nhựa thì dùng 120g gỗ chẻ nhỏ sắc uống nhiều lần.

4. Cam tẩu mã, viêm răng thối loét: Nhựa Mù u trộn với bột Hoàng đơn bôi liên tục vào chân răng.

5. Răng chảy máu hay lợi răng tụt xuống, chân răng lộ ra: Rễ Mù u và rễ Câu kỷ (Rau khởi) liều lượng bằng nhau, sắc nước ngậm nhiều lần.

6. Phong thấp đau xương và thận hư đau lưng hoặc bị thương đau nhức: Rễ Mù u 40g sắc uống.

**** MINHTAMVIETNAM : DẦU MÙ U, DƯỢC LIỆU QUÝ
www.minhtamvietnam-japan.com/node/25
Mù u đã được biết đến từ hàng ngàn năm trước tại quần đảo Tahiti. Mù u có nhiều chủng loại, trong đó loại Calophyllum inophyllum được chú ý nhiều nhất, quả nhỏ cho hạt gọi là tamanu chứa chất dầu màu xanh lục, có mùi thơm. Mù u cũng là một dược liệu dân gian được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.
Dầu Mù U – Một dược liệu dân gian quý
Mù u đã được biết đến từ hàng ngàn năm trước tại quần đảo Tahiti. Mù u có nhiều chủng loại, trong đó loại Calophyllum inophyllum được chú ý nhiều nhất, quả nhỏ cho hạt gọi là tamanu chứa chất dầu màu xanh lục, có mùi thơm. Mù u cũng là một dược liệu dân gian được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.

DẦU MÙ U DÙNG THEO KINH NGHIỆM DÂN GIAN
Từ xưa, người Tahiti đã sớm khám phá ra những hạt Mù u khô có chứa dầu và tìm cách ly trích để dùng vào việc săn sóc, bảo vệ da chống lại các tác nhân gây tổn hại như ánh nắng, độ ẩm cao, gió biển.
Qua kinh nghiệm thực tế, dầu Mù u đã trở thành phương thuốc và mỹ phẩm dân gian chăm sóc bảo vệ da, là sản phẩm thiên nhiên giúp chống nắng và làm ẩm da. Với những tác dụng ấy, người ta đã chú ý bảo vệ cây Mù u, thu hái hạt và xem đó là món quà tặng quí giá của thiên nhiên. Phụ nữ Tahiti dùng dầu Mù u hàng ngày như chất làm ẩm da, làm mỹ phẩm bôi lên mặt và thân thể.

CÔNG DỤNG CỦA DẦU MÙ U

Theo y học cổ truyền, dầu Mù u có tác động mạnh làm giảm đau thần kinh tọa, đau dây thần kinh, đau khớp xương và đau thần kinh do bệnh phong. Năm 1918, các nhà khoa học Pháp bắt đầu nghiên cứu về tác dụng tại chỗ đối với da của dầu Mù u và ghi nhận đặc tính làm liền da của nó. Y văn của Pháp đã ghi nhận nhiều trường hợp sử dụng thành công dầu Mù u trong điều trị các bệnh lý về da. Điển hình là một phụ nữ vào bệnh viện St. Louis tại Paris với tình trạng loét hoại thư ở chân dai dẳng không lành và việc cắt bỏ chân là điều khó tránh khỏi. Trong thời gian chờ đợi cắt bỏ chân, hàng ngày bệnh nhân được cho đắp dầu Mù u. Kết quả vết thương lành dần và khỏi hoàn toàn, chỉ để lại một vết sẹo phẳng, nhỏ. Trong những trường hợp khác, dầu Mù u đã sử dụng thành công để làm lành những vết bỏng nặng do nước sôi, hóa chất hoặc X-quang
THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA DẦU MÙ U
Dầu Mù u chứa 3 nhóm lipid căn bản: lipid trung tính, glycolipid và phospholipid; Một acid béo gọi là calophyllic acid; Một chất kháng sinh mang vòng lactone và một chất kháng viêm không steroid gọi là calophyllolide. Ngoài ra còn có chất kháng viêm coumarine đã tạo nên những hoạt tính bảo vệ sức khỏe. Vì thế dầu Mù u có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm và giảm đau. Đặc tính làm liền sẹo và giảm đau chưa được giải thích trong y văn dù đã được công nhận.
DẦU MÙ U VÀ THÀNH PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG
Từ thập niên 20 của thế kỷ trước, dầu Mù u đã được dùng tại Fiji để làm giảm sự đau nhức thần kinh trong bệnh phong. Nữ tu Marie-Suzanne thuộc dòng thánh Mary đã dùng dầu Mù u (được gọi là Dolno, tức không đau) để bôi lên sang thương người bị bệnh phong và cho kết quả tốt. Từ kết quả lâm sàng tại Fiji, dầu Mù u nhanh chóng được nghiên cứu tại Pháp vào thập niên 30 trong điều trị đau dây thần kinh và tiếp tục được quan tâm về tác dụng làm liền sẹo.
– Dầu Mù u được dùng trong các bệnh lý da và mỹ phẩm nhờ tính thẩm thấu qua da tốt, có mùi thơm, làm sáng da nên thường được đưa vào các thành phẩm dạng nước (dầu massage), kem, pommad và các mỹ phẩm khác. dầu Mù u có tiềm năng lớn trên thị trường các sản phẩm trị bệnh ngoài da lẫn trong kỹ nghệ mỹ phẩm.
– Các nghiên cứu khoa học liên quan đến dầu Mù u đã có từ năm 1920 nhưng nhiều năm sau mới được sử dụng rộng rãi, nhất là tại Tahiti – nơi mà dầu Mù u được tiếp thị cho các dịch vụ săn sóc ban đầu ngoài da và hỗ trợ sắc đẹp.
– Tại châu Âu, dù là một sản phẩm còn mới mẻ nhưng dầu Mù u đã được nhiều công ty đưa vào các công thức sản phẩm. Dầu Mù u có thể được sử dụng nguyên chất hoặc pha loãng 50% với dầu dừa hoặc dung môi thích hợp khác mà không làm giảm hiệu lực.
– Trong ngành mỹ phẩm, dầu Mù u sử dụng phải thật tinh khiết để bảo đảm thích hợp cho mọi loại da, hấp thu nhanh, làm mềm da mà không để lại vết trơn láng của dầu.
– Trong tương lai, dầu Mù u có thể kết hợp với vitamin E, aloes vera (cây lô hội, tức nha đam) để tạo nên các sản phẩm săn sóc da. Hiện nay đã có nhiều công ty sản xuất dầu Mù u đóng chai như Cty Tinh Dầu Thiên Nhiên Natural, Active Botanicals, Pure World Botanicals…
– Một số công trình nghiên cứu khoa học về dầu Mù u đã được công bố tại châu Âu và Mỹ. Người ta còn phối hợp dầu Mù u với các chất khác để sản xuất loại mỹ phẩm dùng dưới dạng lotion, kem, dầu mat-xa. Ở nước ta cũng đã có sản phẩm Trăn – Mù u đóng chai 15ml. Trong tương lai, các sản phẩm có chứa dầu Mù u để điều trị và làm đẹp da có thể sẽ tạo nên một thị trường giàu tiềm năng.

________________________________________________________

**** WIKI
en.wikipedia.org/wiki/Calophyllum_inophyllum

Calophyllum inophyllum is a large evergreen. It is native from East Africa, southern coastal India to Malesia and Australia.
Distribution and description

Nowadays it is widely cultivated in all tropical regions of the world, including several Pacific Islands. Because of its decorative leaves, fragrant flowers and spreading crown, it is best known as an ornamental plant.
It is a low-branching and slow-growing tree with a broad and irregular crown. It usually reaches 8 to 20 metres (26 to 66 ft) in height. The flower is 25 millimetres (0.98 in) wide and occurs in racemose or paniculate inflorescences consisting of 4 to 15 flowers. Flowering can occur year-round, but usually two distinct flowering periods are observed, in late spring and in late autumn. The fruit (the ballnut) is a round, green drupe reaching 2 to 4 centimetres (0.79 to 1.6 in) in diameter and having a single large seed. When ripe, the fruit is wrinkled and its color varies from yellow to brownish-red.
This tree often grows in coastal regions as well as nearby lowland forests. However it has also been cultivated successfully in inland areas at moderate altitudes. It tolerates varied kinds of soil, coastal sand, clay or even degraded soil.

Uses

Besides being a popular ornamental plant, its wood is hard and strong and has been used in construction or boatbuilding. Traditional Pacific Islanders used Calophyllum wood to construct the keel of their canoes while the boat sides were made from breadfruit (Artocarpus altilis) wood. The seeds yield a thick, dark green oil for medicinal use or hair grease. Active ingredients in the oil are believed to regenerate tissue, so is sought after by cosmetics manufacturers as an ingredient in skin cremes. The nuts should be well dried before cracking, after which the oil-laden kernel should be further dried. The first neoflavone isolated in 1951 from natural sources was calophyllolide from Calophyllum inophyllum seeds[5].

The fatty acid methyl ester of Calophyllum inophyllum seed oil meets the major biodiesel requirements in the United States (ASTM D 6751), and European Union (EN 14214). The average oil yield is 11.7 kg-oil/tree or 4680 kg-oil/hectare
The tree is regarded as sacred in some Pacific islands because of its excellent growth in sandy soil as shade tree and many uses.
In the northwest coastal areas of Luzon island in Philippines, the oil was used for night lamps. It creates a relaxing aroma. This widespread use starded to decline when kerosene became available, and later on electricity.
It was also used as fuel to generate electricity to provide power for radios during World War II.

**** AGROFORESTRY
www.agroforestry.net/tti/Calophyllum-kamani.pdf

**** PLANTS OF HAWAII
www.hear.org/starr/images/species/?q=calophyllum+inophyll…

**** USDA PLANTS PROFILE
plants.usda.gov/java/profile?symbol=CAIN4

**** ASIANPLANTNET
www.asianplant.net/Clusiaceae/Calophyllum_inophyllum.htm
Synonyms
Balsamaria inophyllum Lour., Calophyllum bintagor Roxb., Calophyllum blumei Wight, Calophyllum inophyllum var. blumei (Wight) Hassk., Calophyllum inophyllum forma oblongata Miq., Calophyllum inophyllum forma obovata Miq., Calophyllum inophyllum var. takamaka Fosberg, Calophyllum ovatifolium Norona, Calophyllum wakamatsui Kanehira

**** RIGHTHEALTH.COM
www.righthealth.com/topic/tamanu_(_calophyllum_inophyllum…
Tamanu or Calophyllum Inophyllum is known to produce oil with healing prowess. The Tamanu tree could be found, primarily, in Southeast Asia: Thailand, Vietnam, Myanmar, Malaysia, South India, Sri Lanka, and the Melanesian and Polynesian islands. Furthermore, many claim of the antineuralgic, anti-inflammatory, antimicrobial, antibiotic, and antioxidant properties of Tamanu’s oil, thus its popularity increased. The Tamanu trees produce fragrant, white flowers twice annually and these yield clustered yellow-skinned spherical fruit, which a large nut in the middle. An odourless pale kernel can be found in the nut. The oil is produced when the kernel is dried in the sun for two months until it becomes sticky, producing a dark, thick, rich oil.
Moreover, Tamanu oil is relevant in wound healing and growth of healthy skin as it is said to help form new tissue, and this process is referred to as cicatrization. It is of this healing power that the oil has been used as a topical remedy for skin conditions such as cuts, scrapes, burns, insect bites and stings, abrasions, acne and acne scars, psoriasis, diabetic sores, anal fissures, sunburn, dry or scaly skin, blisters, eczema, herpes sores, and to reduce foot and body odour, neuralgia, rheumatism and sciatica. Traditionally, the Tamanu oil has been used as relief for inflamed eyes or heatstroke. Moreover, in the Philippines, the oil found its use as an astringent for haemorrhoids and in Dobu Island, the solution from the boiled leaves is used to wash skin rashes. The oil, as claimed, cures a number of diseases including infections, abscesses, pneumonias, diphtheria, among the many other diseases. Lastly, the oil has also been added in some cosmetic products such as creams, lotions, topical ointments, etc.

Rate this ➜

0 people like this.

Tags: , , ,

No comments.

Leave a Reply