Nice Eczema Cures photos

Posted on 06. Sep, 2013 by in Uncategorized

Some cool eczema cures images:

Chinaberry tree, Bead tree, Melia azedarach……Cây Xoan ở Texas…..#1
eczema cures
Image by Vietnam Plants & The USA. plants
Chụp hình ngày 17-6-2012 tại thành phố Waco, tiểu bang Texas, miền Nam nước Mỹ.

Taken on June 17, 2012 in Waco city, Texas states, Southern of The United States of America.

Vietnamese named : Xoan
Common names : Paraiso (Span., Tag.),,Bead tree (Engl.). Cape syringa (Engl.), China berry (Engl.), Chinese umbrella tree (Engl.), Indian lilac (Engl.), Pride of India (Engl.), K’u Lien (Chin.).
Scientist name : Melia azedarach L.
Synonyms : Melia azedarach L. var. umbraculifera Knox

Family : Meliaceae – Mahogany family
Group : Dicot
Duration : Perennial
Growth Habit : Tree – Shrub
Kingdom : Plantae – Plants
Subkingdom : Tracheobionta – Vascular plants
Superdivision : Spermatophyta – Seed plants
Division : Magnoliophyta – Flowering plants
Class : Magnoliopsida – Dicotyledons
Subclass : Rosidae
Order : Sapindales
Genus : Melia L. – melia
Species : Melia azedarach L. – Chinaberrytree

**** vi.wikipedia.org/wiki/Xoan
Cây xoan hay xoan ta, xoan nhà, xoan trắng, sầu đông, thầu đâu, (danh pháp hai phần: Melia azedarach; đồng nghĩa M. australis, M. japonica, M. sempervivens), là một loài cây thân gỗ lá sớm rụng thuộc họ Xoan (Meliaceae), có nguồn gốc ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Australia.
Cây này tiếng Anh gọi là Chinaberry, Bead tree, Persian lilac (đinh hương Ba Tư), White cedar (tuyết tùng trắng) và một vài tên gọi khác. Tại Nam Phi người ta gọi nhầm nó là Syringa, nhưng đúng ra đó là tên gọi của các loài đinh hương.
Chi Melia bao gồm 4 loài khác nữa, có mặt trong khu vực đông nam châu Á tới miền bắc châu Úc. Tất cả chúng đều là cây thân gỗ nhỏ, thay lá hàng năm.

Miêu tả

Cây trưởng thành cao từ 7 đến 12 m. Hoa xoan có năm cánh, sắc tía nhạt hoặc tím hoa cà, mọc thành chùm. Hoa có hương thơm.
Trái xoan loại quả hạch, to cỡ hòn bi, vỏ có màu vàng nhạt khi chín, không rụng ngay mà giữ trên cành suốt mùa đông. Trái dần chuyển sang màu trắng.
Lá xoan dài tới 50 cm, mọc so le, cuống lá dài với 2 hoặc 3 nhánh lá phức mọc đối; các lá chét có màu lục sẫm ở mặt trên và xanh nhạt hơn ở mặt dưới. Mép lá có khía răng cưa.

Sử dụng

Lá xoan được sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên để bảo quản một số loại lương thực. Vì có độc tính, lá xoan, trái xoan đều không thể ăn được. Ngày xưa nhựa cây và tinh dầu cất từ lá và thân cây khi pha loãng được sử dụng để làm giãn tử cung.
Hoa xoan không hấp dẫn đối với các loài ong bướm. Hạt xoan tròn và cứng thường được dùng làm chuỗi tràng hạt và các sản phẩm tương tự khác trước khi kỹ nghệ plastic thịnh hành và thay thế vật liệu hạt xoan.

Độc tính

Tất cả các bộ phận của cây xoan đều có độc tính đối với con người nếu ăn phải. Yếu tố gây độc là các chất gây ngộ độc thần kinh chứa tetranortriterpen và các loại nhựa chưa xác định; hàm lượng cao nhất chứa trong quả. Một số loài chim có thể ăn quả xoan, nhờ thế mà hạt của xoan được phát tán khi chúng bị đánh rơi, nhưng chỉ cần 15 gam hạt đã là liều gây chết cho một con lợn nặng 22 kg. Các triệu chứng ngộ độc đầu tiên xuất hiện chỉ vài giờ sau khi ăn phải. Các triệu chứng này bao gồm mất vị giác, nôn mửa, táo bón hoặc tiêu chảy, phân có máu, tổn thương dạ dày, sung huyết phổi, trụy tim v.v. Tử vong có thể xảy ra sau khoảng 24 giờ.
Cũng vì có độc tính nên cây xoan còn được trồng để lấy gỗ vì gỗ không bị mối. Hoa và lá xoan thì được dùng rải dưới chiếu để ngừa rệp.[

Một số vấn đề

Dưới đây liệt kê một số vấn đề với các tên gọi khác của cây xoan ta. Trong đó có các tên gọi sầu đâu, khổ luyện, nha đảm (đởm) tử. Các tên gọi này rất dễ làm người ta lẫn lộn các loài cây khác nhau là một.

Sầu đâu
Một số tài liệu gọi cây xoan ta là sầu đâu. Ví dụ trang Web của nhóm huediepchi gọi cây xoan ta là sầu đâu. Tuy nhiên, trang Web của yhoccotruyen coi cây nha đảm (đởm) tức cây xoan rừng (Brucea javanica) thuộc họ Simaroubaceae cùng bộ Bồ hòn là sầu đâu (tên khác: cứt chuột, sầu đâu rừng) với lưu ý "Không nhầm với cây khổ luyện tử (xuyên luyện tử) (Melia toesendan (S et Z.) họ Xoan), cây cao trên 10m. Không nhầm với cây xoan nhà (Melia azedarach (L.) họ Xoan cây cao 8 –10m" hay suckhoedoisong cũng gọi cây sầu đâu (sầu đâu rừng, sầu đâu cứt chuột, hạt khổ sâm, khổ luyện tử, nha đảm tử, chù mền, san đực (Sầm Sơn), cứt cò (Vĩnh Linh), bạt bỉnh (Nghệ An)) là Brucea javanica.
Trong khi đó trang en:Neem lại coi Azadirachta indica cùng họ là cây sầu đâu (có lẽ theo cách gọi tại miền nam Việt Nam) với lá ăn được.

Khổ luyện
Trang Web của alternativehealing.org coi khổ luyện tử (苦楝子) hay kim linh tử (金鈴子) và xuyên luyện tử (川楝子) là một, đều là vị thuốc từ quả của Melia azedarach (L.) sub. var. toosendan Makino hay Melia toosendan (Sieb. et Zucc.).
Trang Web của nhóm huediepchi cũng gọi cây xoan ta là khổ luyện (苦楝). Từ điển Hán Việt Thiều Chửu cũng diễn giải luyện (楝) là cây xoan. Quả nó gọi là khổ luyện tử (苦楝子) dùng làm thuốc lỵ, tục gọi là kim linh tử (金鈴子). Tuy nhiên trang Web của yhoccotruyen có lẽ coi Melia toesendan (S et Z.) và Melia azedarach (L.) là hai loài khác nhau khi chỉ dùng khổ luyện tử cho loài đầu còn loài thứ hai thì chỉ gọi nó là cây xoan nhà.

Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm tính pháp lý cho các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe.
Đề nghị liên hệ và nhận tư vấn từ các bác sĩ hay các chuyên gia.

Nha đảm (đởm) tử
Trang Web của nhóm huediepchi cũng gọi cây xoan ta là nha đảm tử trong khi các trang của Web của suckhoedoisong và yhoccotruyen không cho nha đảm tử là cây này mà coi nha đảm tử là vị thuốc từ quả của Brucea javanica.

**** www.vienduoclieu.org.vn/index.php?option=com_content&…

MELIA AZEDARACH L.
MELIACEAE
XOAN, sầu đâu, khổ luyện, mạy riển (Tày)

MÔ TẢ:
Cây gỗ, cao 10m hoặc hơn. Vỏ thân có rãnh dọc. Lá mọc so le, hai lần lông chim lẻ. Lá chét có răng cưa, nhẵn ở hai mặt. Cụm hoa hình xim hai ngả, gồm nhiều hoa màu trắng, các nhị tập hợp thành ống hình trụ màu tím. Quả hạch hình cầu, khi chín màu vàng, có 4 hạt.
MÙA HOA QUẢ:
Hoa: Tháng 3- 4; Quả: Tháng 6- 8.
PHÂN BỐ:
Cây được trồng phổ biến ở khắp nơi.
BỘ PHẬN DÙNG:
Vỏ rễ. Thu hoạch khi khai thác cây lấy gỗ. Cạo sạch lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy phần vỏ lụa. Phơi hoặc sấy khô. Khi dùng sao hơi vàng.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC:
Vỏ thân và vỏ rễ chứa alcaloid azaridin (margosin), sterol và tanin. Lá có alcaloid paraisin, flavonoid rutin. Hạt chứa dầu gồm các acid stearic, palmitic, oleic và linoleic.
CÔNG DỤNG:
Thuốc tẩy giun đũa, giun kim. Dùng lớp vỏ lụa bên trong vỏ rễ, sao vàng. Người lớn: Ngày 2- 3g bột, trong 3 ngày liền. Trẻ em tuỳ theo tuổi, từ 0,1- 1,5g mỗi ngày. Còn dùng nước sắc thụt âm đạo trị nhiễm ký sinh trùng. Độc tính rất cao, phải cẩn thận khi dùng.

**** www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/show_target.plx?url=/thuocdon…

Xoan – Melia azedarach L., thuộc họ Xoan – Meliaceae.

Mô tả: Cây cao 15-20m, rụng lá mùa đông. Lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, lá chét có chóp nhọn, gốc lệch, ở mép có răng cưa. Hoa nở trước hoặc cùng thời gian với lá non, xếp thành chùy ở nách lá. Hoa màu tím nhạt, thơm hắc, 5-6 lá đài, 5-6 cánh hoa hình dải, 10 nhị dính thành ống hình trụ, phân thùy, với 10-12 bao phấn đính ở kẽ thùy. Có đĩa mật. Bầu 5-6 ô. Quả hạch, vỏ ngoài nạc, vỏ trong hóa gỗ, gồm 4-5 ô, mỗi ô chứa 1 hạt đen.

Ra hoa tháng 2-3

Bộ phận dùng: Vỏ và vỏ rễ – Cortex et Cortex Radicis Meliae. thường gọi là Khổ luyện bì

Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Ấn Độ – Malaixia, mọc hoang và cũng thường được trồng. Thu hái vỏ cây quanh năm, tốt nhất vào đầu mùa mưa, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.

Khi bóc vỏ Xoan cần cạo hết lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy phần vỏ lụa ở giữa. Khi dùng, đem sao vỏ đến hơi vàng.

Thành phần hóa học: Trong vỏ có tanin, muối oxalat, chất margosin; còn có kulactone, kulolactone, kulinone, methyl kulonate, toosendanin.

Tính vị, tác dụng: Xoan có vị đắng, tính lạnh, hơi độc. Nó là loại thuốc làm se và tẩy giun, có đặc hiệu với các loại giun chỉ, giun đũa và giun kim. Cũng có thể trị bệnh nhiệt cấp tính, viêm bàng quang và sán khí.

Cây có độc, nếu uống nhiều, sẽ bị choáng mặt, choáng đầu và co rút gân.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường được chỉ định dùng trị giun đũa, giun chỉ, giun kim. Liều dùng 5-10g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị bệnh tinea, ghẻ, eczema, viêm da, mày đay, viêm âm đạo do trichomonas. Nấu nước để rửa, hoặc nghiền ra và pha thêm giấm để đắp ngoài. Lá dùng đun sôi để rửa và thấm nước lau chữa chốc lở, nhiễm trùng ecpet, mảng tròn, mụn nhọt, viêm da.

__________________________________________________________________

**** plants.usda.gov/java/profile?symbol=MEAZ&photoID=meaz…
**** en.wikipedia.org/wiki/Melia_azedarach
**** ayurvedicmedicinalplants.com/index.php?option=com_zoom&am…

**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18763152
Clin Toxicol (Phila). 2008 Dec;46(10):1067-70. doi: 10.1080/15563650802310929.
Human Melia azedarach poisoning.
Phua DH, Tsai WJ, Ger J, Deng JF, Yang CC.
Source
Emergency Department, Tan Tock Seng Hospital, Singapore.
Abstract
INTRODUCTION:
In traditional Chinese medicine, Melia azedarach (Ku-lian) is used orally and topically as an antiparasitic and antifungal agent. Although toxicity of this plant has been widely described in veterinary literature, human poisoning is rarely reported. We describe five patients with M. azedarach poisoning who recovered with supportive care.
CASE SERIES:
Five patients were identified retrospectively from the database of the Taiwan National Poison Center at the Taipei Veterans General Hospital. Three cases were on-site patients, and two were telephone consultations from outside hospitals. Neurological symptoms were the major manifestation in four cases: weakness, myalgia, numbness, and ptosis. Treatment was symptomatic and supportive; all patients recovered without sequelae.
DISCUSSION:
It is not known which limonoids are responsible for human toxicity. In the Chinese medical literature, human M. azedarach poisoning is said to occur if six to nine fruits, 30 to 40 seeds, or 400 g of the bark is consumed. Onset of symptoms typically occurs within 4-6 h, but as short as 0.5 h had been documented. In our patients, the onset of M. azedarach poisoning was variable, ranging from a few hours to up to 3 weeks after consumption of the herb.
CONCLUSIONS:
M. azedarach poisoning may result in gastrointestinal, cardiovascular, respiratory, or neurological effects, and death in severe cases.
PMID: 18763152 [PubMed – indexed for MEDLINE]

**** www.stuartxchange.com/Paraiso.html
Paraiso
Melia azedarach Linn.
BEAD TREE
K’u Lien

Botany
Paraiso is a shrub or small tree, usually not more than 3 to 4 meters high. Leaves are bipinnate, occasionally tripinnate, 20 to 40 centimeters long. Leaflets are numerous, oblong-ovate, toothed, and 4 to 7 centimeters long. Flowers are fragrant, 5-parted, borne on panicles 10 to 20 centimeters long. Petals are about 1 centimeter long, oblong-spatulate, and pale lilac, while the staminal-tube is usually dark purple and about 7 millimeters long. Fruit is ovoid or subglobose, about 1 centimeter long.

Distribution
– Ornamentally cultivated in Manila and larger towns for its fragrant flowers.
– Nowhere naturalized,
– Introduced in earlier times from China.

Constituents
– Bark yields a bitter substance, named margosin by Cornish, and azadarin by Piddington.
– Study isolated an alkaloid from the bark of the roots – paraisine – soluble in petrol ether, benzene and chloroform.
– Study isolated an oil from the kernels, consisting of butyric and valeric acids 2.31%, stearic acid 21.38%, palmitic acid 12.62%, oleic acid 52.08%, linoleic acid 2.12%. arachidic and liquoceric acids 0.74%

Properties
– Root is very bitter and nauseating.
– Leaves considered anthelmintic, antilithic, diuretic, deobstruent, resolvent.
– Root considered resolvent, deobstruent, vermifuge.
– Bark is considered a bitter tonic, astringent, antiperiodic.
– Fruit considered emollient and purgative.
– Seeds are emetic, laxative, and antihelmintic.
– Expressed oil is pale yellow and bitter tasting, with a garlic-like odor.
– The oil is considered the most active medicinal part of the plant.
– Oil considered stimulant, antiseptic, alterative.

Parts utilized
· Fruits, leaves, bark of roots and bark of trunk.
· Collect fruits from November to April, leaves from May to October, roots and bark the whole year round.
· Remove the outermost bark, rinse, and sun-dry. Cut into sections.

Uses
Folkloric
– Root decoction or fluid extract used as anthelmintic.
– Root bark used as vermifuge; also used for intermittent fevers and dysentery.
– Root bark used in America as a cathartic and emetic.
– In India, before quinine, root bark used for malaria.
– Infusion of bark used as febrifuge especially for periodic fevers; also, for thirst and nausea.
– Poultice of bark used in leprosy and scrofulous ulcers.
– Leaves used in a variety of forms – poultice, wash, ointment or liniment – as external applications to ulcers and skin diseases
– Crushed leaves used as poultice for boils and sores.
– Internally, infusion of fresh leaves used as a bitter vegetable tonic and alterative. (The stools noticed to become a brilliant yellow after use.) Infusion also used for chronic malarial fevers; and as a powerful alterative for chronic syphilitic infections.
– Decoction of leaves used for ; also, for hysteria.
– Juice of leaves used internally as anthelmintic, antilithic, diuretic, and emmenagogue.
– Decoction of leaves used as astringent, anthelmintic and stomachic.
– In Sidh, poultice of leaves used for sprains.
– Paste of flowers used to destroy headlice and associated scalp eruptions. Also, used for prickly heat.
– Poultice of flowers and leaves applied for nervous headaches.
– Fruit used as purgative and emollient; useful for intestinal worms, urinary affections and piles.
– Fruit is considered both tonic and poisonous, and used for leprosy and scrofula; the fruit pulp used as anthelmintic. (The pulp of the fruit, mixed with grease, is reported to kill dogs.)
– Seeds are emetic, laxative and anthelmintic; in Indo-China, used for typhoid fever and urinary retention.
– Oil used for syphilitic sores and indolent ulcers; also, for leprosy, suppurating scrofulous glands and rheumatism.
– Oil used as application for erysipelas, scrofula, and various skin diseases; also, as parasiticide in various cutaneous affects as ringworm and scabies.
– Internally, the oil used for chronic malarial fevers, syphilis, and leprosy.
– In Mauritius, the root bark is used as anthelmintic; in Algeria, as tonic and antipyretic; elsewhere, the heartwood is used to relieve asthma, as emetic or as emmenagogue.
Others
• Insecticidal: Leaf extract has insecticidal property; repels insects in clothing. Powdered dust of fruit, crude extract of wood and bark are also insecticidal.

Studies
• Antibacterial: (1) Study showed the leaves of M. azedarach are effective against both gram positive and gram negative strains of bacteria. (2) Methanol extract of MA flowers showed potent antibacterial action in rabbits with S aureus skin infection. (3) A formulated cream contain Melia azedarach flowers showed a strong potential to cure bacterial infections in young children, comparable to neomycin skin ointment.
• Contraceptive: Ethanolic extract of MA roots prevented pregnancy in 60-75% of female rats with decreased rate of implantation.
• Antioxidant: (1) Study showed the leaves of MA to possess an erythrocyte protective activity against drug-induced oxidative stress. (2) Study showed the extract of Melia azedarach, which contains the highest amount of phenolic compounds, exhibited the greatest anti-oxidant activity compared to A. indica.
• Antifungal: Extracts from different parts of MA exhibited fungistatic activity against A flavus, D phaseolum, F oxysporum, F solani, among others. The ethanolic seed extract showed to be the most active.
• Anthelmintic: Drupe extracts of MA in Argentina showed better activity against tapeworm than standard piperazine phosphate used for Cestodal infections.
• Antiviral: Extract of leaves of MA isolated a limonoid which showed antiviral activity against vesicular stomatitis and herpes simples virus.
• Anti-lithiasis: Study of aqueous extract of MA showed to be effective against ethylene glycol-induced nephrolithiasis in albino rats.
• Anti-Folliculogenesis: Study concludes the polar and non-polar fractions of A indica and M azedarach seed extracts significant reduced the number of follicles in rats, with maximum reduction occurring with the Azadirachta extract.
• Immunomodulatory: Leaf extract from M azedarach L. inhibited phagocytosis of opsonized sheep erythrocytes and the respiratory burst triggered by post-receptor stimuli in human monocytes.
• Antioxidant / Hepatoprotective: Study of the antioxidant and antihepatotoxic activities of the biherbal ethanolic extracts of M azedarach and Piper longum showed potent antihepatotoxic activity against carbon tetrachloride-induced acute toxicity in rat liver. The effect was probably related to its marked antioxidant activity.
• Larvicidal: Ethanolic extract of Melia azedarach showed effective larvicidal activity against Anopheles stephensi, Culex quinquefasciatus and Aedes aegypti. Results suggest a potential use as larvicidal agent to control mosquito populations.
• Hepatoprotective: Study of a methanolic leaf extract of Melia azedarach against paracetamol-induced heptatic damage in rats showed significant hepatoprotective activity.
• Anti-Ulcer: Study of aqueous extract of leaves of Melia azedarach on anti-ulcer activity in aspirin-induced and pylorus-ligated rate showed antiulcer effects comparable to the standard drug Omeprazole.
• Anti-Fertility: Study of Melia azedarach seed extract in adult cyclic Wistar rats showed a reduction in fertility index and average number of embryos in mated rats with associated histological changes. Results suggest the plant extract has a potential use in a rodent control program.

Toxicity
• Report on Human Poisoning: Review of Chinese medical literature reports that human M. azedarach poisoning occur when 6 to 9 fruits, 30 to 40 seeds, or 400 g of bark are consumed. Symptoms occur within 4-6 hrs, or as short as 1/2 hour, consisting of weakness, myalgia, numbness and ptosis. M azedarach poisoning may result in gastrointestinal, cardiovascular, respiratory or neurological effects, and death in severe cases.
• Case Report on a Fatality: There have been scattered reports of human fatalities and non-fatal toxicities: (1) A woman who died after a bark decoction of M azedarach taken for dysmenorrhea. (2) A fatality from a bark decoction enema. (3) Illnesses from decoctions and infusions causing stomatitis, hematemesis, oliguria.
• Animals: Pulp of seeds is fatal to dogs.

Availability
Wild-crafted.

Chinaberry tree, Bead tree, Melia azedarach……Cây Xoan ở Texas…..#3
eczema cures
Image by Vietnam Plants & The USA. plants
Chụp hình ngày 17-6-2012 tại thành phố Waco, tiểu bang Texas, miền Nam nước Mỹ.

Taken on June 17, 2012 in Waco city, Texas states, Southern of The United States of America.

Vietnamese named : Xoan
Common names : Paraiso (Span., Tag.),,Bead tree (Engl.). Cape syringa (Engl.), China berry (Engl.), Chinese umbrella tree (Engl.), Indian lilac (Engl.), Pride of India (Engl.), K’u Lien (Chin.).
Scientist name : Melia azedarach L.
Synonyms : Melia azedarach L. var. umbraculifera Knox

Family : Meliaceae – Mahogany family
Group : Dicot
Duration : Perennial
Growth Habit : Tree – Shrub
Kingdom : Plantae – Plants
Subkingdom : Tracheobionta – Vascular plants
Superdivision : Spermatophyta – Seed plants
Division : Magnoliophyta – Flowering plants
Class : Magnoliopsida – Dicotyledons
Subclass : Rosidae
Order : Sapindales
Genus : Melia L. – melia
Species : Melia azedarach L. – Chinaberrytree

**** vi.wikipedia.org/wiki/Xoan
Cây xoan hay xoan ta, xoan nhà, xoan trắng, sầu đông, thầu đâu, (danh pháp hai phần: Melia azedarach; đồng nghĩa M. australis, M. japonica, M. sempervivens), là một loài cây thân gỗ lá sớm rụng thuộc họ Xoan (Meliaceae), có nguồn gốc ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Australia.
Cây này tiếng Anh gọi là Chinaberry, Bead tree, Persian lilac (đinh hương Ba Tư), White cedar (tuyết tùng trắng) và một vài tên gọi khác. Tại Nam Phi người ta gọi nhầm nó là Syringa, nhưng đúng ra đó là tên gọi của các loài đinh hương.
Chi Melia bao gồm 4 loài khác nữa, có mặt trong khu vực đông nam châu Á tới miền bắc châu Úc. Tất cả chúng đều là cây thân gỗ nhỏ, thay lá hàng năm.

Miêu tả

Cây trưởng thành cao từ 7 đến 12 m. Hoa xoan có năm cánh, sắc tía nhạt hoặc tím hoa cà, mọc thành chùm. Hoa có hương thơm.
Trái xoan loại quả hạch, to cỡ hòn bi, vỏ có màu vàng nhạt khi chín, không rụng ngay mà giữ trên cành suốt mùa đông. Trái dần chuyển sang màu trắng.
Lá xoan dài tới 50 cm, mọc so le, cuống lá dài với 2 hoặc 3 nhánh lá phức mọc đối; các lá chét có màu lục sẫm ở mặt trên và xanh nhạt hơn ở mặt dưới. Mép lá có khía răng cưa.

Sử dụng

Lá xoan được sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên để bảo quản một số loại lương thực. Vì có độc tính, lá xoan, trái xoan đều không thể ăn được. Ngày xưa nhựa cây và tinh dầu cất từ lá và thân cây khi pha loãng được sử dụng để làm giãn tử cung.
Hoa xoan không hấp dẫn đối với các loài ong bướm. Hạt xoan tròn và cứng thường được dùng làm chuỗi tràng hạt và các sản phẩm tương tự khác trước khi kỹ nghệ plastic thịnh hành và thay thế vật liệu hạt xoan.

Độc tính

Tất cả các bộ phận của cây xoan đều có độc tính đối với con người nếu ăn phải. Yếu tố gây độc là các chất gây ngộ độc thần kinh chứa tetranortriterpen và các loại nhựa chưa xác định; hàm lượng cao nhất chứa trong quả. Một số loài chim có thể ăn quả xoan, nhờ thế mà hạt của xoan được phát tán khi chúng bị đánh rơi, nhưng chỉ cần 15 gam hạt đã là liều gây chết cho một con lợn nặng 22 kg. Các triệu chứng ngộ độc đầu tiên xuất hiện chỉ vài giờ sau khi ăn phải. Các triệu chứng này bao gồm mất vị giác, nôn mửa, táo bón hoặc tiêu chảy, phân có máu, tổn thương dạ dày, sung huyết phổi, trụy tim v.v. Tử vong có thể xảy ra sau khoảng 24 giờ.
Cũng vì có độc tính nên cây xoan còn được trồng để lấy gỗ vì gỗ không bị mối. Hoa và lá xoan thì được dùng rải dưới chiếu để ngừa rệp.[

Một số vấn đề

Dưới đây liệt kê một số vấn đề với các tên gọi khác của cây xoan ta. Trong đó có các tên gọi sầu đâu, khổ luyện, nha đảm (đởm) tử. Các tên gọi này rất dễ làm người ta lẫn lộn các loài cây khác nhau là một.

Sầu đâu
Một số tài liệu gọi cây xoan ta là sầu đâu. Ví dụ trang Web của nhóm huediepchi gọi cây xoan ta là sầu đâu. Tuy nhiên, trang Web của yhoccotruyen coi cây nha đảm (đởm) tức cây xoan rừng (Brucea javanica) thuộc họ Simaroubaceae cùng bộ Bồ hòn là sầu đâu (tên khác: cứt chuột, sầu đâu rừng) với lưu ý "Không nhầm với cây khổ luyện tử (xuyên luyện tử) (Melia toesendan (S et Z.) họ Xoan), cây cao trên 10m. Không nhầm với cây xoan nhà (Melia azedarach (L.) họ Xoan cây cao 8 –10m" hay suckhoedoisong cũng gọi cây sầu đâu (sầu đâu rừng, sầu đâu cứt chuột, hạt khổ sâm, khổ luyện tử, nha đảm tử, chù mền, san đực (Sầm Sơn), cứt cò (Vĩnh Linh), bạt bỉnh (Nghệ An)) là Brucea javanica.
Trong khi đó trang en:Neem lại coi Azadirachta indica cùng họ là cây sầu đâu (có lẽ theo cách gọi tại miền nam Việt Nam) với lá ăn được.

Khổ luyện
Trang Web của alternativehealing.org coi khổ luyện tử (苦楝子) hay kim linh tử (金鈴子) và xuyên luyện tử (川楝子) là một, đều là vị thuốc từ quả của Melia azedarach (L.) sub. var. toosendan Makino hay Melia toosendan (Sieb. et Zucc.).
Trang Web của nhóm huediepchi cũng gọi cây xoan ta là khổ luyện (苦楝). Từ điển Hán Việt Thiều Chửu cũng diễn giải luyện (楝) là cây xoan. Quả nó gọi là khổ luyện tử (苦楝子) dùng làm thuốc lỵ, tục gọi là kim linh tử (金鈴子). Tuy nhiên trang Web của yhoccotruyen có lẽ coi Melia toesendan (S et Z.) và Melia azedarach (L.) là hai loài khác nhau khi chỉ dùng khổ luyện tử cho loài đầu còn loài thứ hai thì chỉ gọi nó là cây xoan nhà.

Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm tính pháp lý cho các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe.
Đề nghị liên hệ và nhận tư vấn từ các bác sĩ hay các chuyên gia.

Nha đảm (đởm) tử
Trang Web của nhóm huediepchi cũng gọi cây xoan ta là nha đảm tử trong khi các trang của Web của suckhoedoisong và yhoccotruyen không cho nha đảm tử là cây này mà coi nha đảm tử là vị thuốc từ quả của Brucea javanica.

**** www.vienduoclieu.org.vn/index.php?option=com_content&…

MELIA AZEDARACH L.
MELIACEAE
XOAN, sầu đâu, khổ luyện, mạy riển (Tày)

MÔ TẢ:
Cây gỗ, cao 10m hoặc hơn. Vỏ thân có rãnh dọc. Lá mọc so le, hai lần lông chim lẻ. Lá chét có răng cưa, nhẵn ở hai mặt. Cụm hoa hình xim hai ngả, gồm nhiều hoa màu trắng, các nhị tập hợp thành ống hình trụ màu tím. Quả hạch hình cầu, khi chín màu vàng, có 4 hạt.
MÙA HOA QUẢ:
Hoa: Tháng 3- 4; Quả: Tháng 6- 8.
PHÂN BỐ:
Cây được trồng phổ biến ở khắp nơi.
BỘ PHẬN DÙNG:
Vỏ rễ. Thu hoạch khi khai thác cây lấy gỗ. Cạo sạch lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy phần vỏ lụa. Phơi hoặc sấy khô. Khi dùng sao hơi vàng.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC:
Vỏ thân và vỏ rễ chứa alcaloid azaridin (margosin), sterol và tanin. Lá có alcaloid paraisin, flavonoid rutin. Hạt chứa dầu gồm các acid stearic, palmitic, oleic và linoleic.
CÔNG DỤNG:
Thuốc tẩy giun đũa, giun kim. Dùng lớp vỏ lụa bên trong vỏ rễ, sao vàng. Người lớn: Ngày 2- 3g bột, trong 3 ngày liền. Trẻ em tuỳ theo tuổi, từ 0,1- 1,5g mỗi ngày. Còn dùng nước sắc thụt âm đạo trị nhiễm ký sinh trùng. Độc tính rất cao, phải cẩn thận khi dùng.

**** www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/show_target.plx?url=/thuocdon…

Xoan – Melia azedarach L., thuộc họ Xoan – Meliaceae.

Mô tả: Cây cao 15-20m, rụng lá mùa đông. Lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, lá chét có chóp nhọn, gốc lệch, ở mép có răng cưa. Hoa nở trước hoặc cùng thời gian với lá non, xếp thành chùy ở nách lá. Hoa màu tím nhạt, thơm hắc, 5-6 lá đài, 5-6 cánh hoa hình dải, 10 nhị dính thành ống hình trụ, phân thùy, với 10-12 bao phấn đính ở kẽ thùy. Có đĩa mật. Bầu 5-6 ô. Quả hạch, vỏ ngoài nạc, vỏ trong hóa gỗ, gồm 4-5 ô, mỗi ô chứa 1 hạt đen.

Ra hoa tháng 2-3

Bộ phận dùng: Vỏ và vỏ rễ – Cortex et Cortex Radicis Meliae. thường gọi là Khổ luyện bì

Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Ấn Độ – Malaixia, mọc hoang và cũng thường được trồng. Thu hái vỏ cây quanh năm, tốt nhất vào đầu mùa mưa, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.

Khi bóc vỏ Xoan cần cạo hết lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy phần vỏ lụa ở giữa. Khi dùng, đem sao vỏ đến hơi vàng.

Thành phần hóa học: Trong vỏ có tanin, muối oxalat, chất margosin; còn có kulactone, kulolactone, kulinone, methyl kulonate, toosendanin.

Tính vị, tác dụng: Xoan có vị đắng, tính lạnh, hơi độc. Nó là loại thuốc làm se và tẩy giun, có đặc hiệu với các loại giun chỉ, giun đũa và giun kim. Cũng có thể trị bệnh nhiệt cấp tính, viêm bàng quang và sán khí.

Cây có độc, nếu uống nhiều, sẽ bị choáng mặt, choáng đầu và co rút gân.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường được chỉ định dùng trị giun đũa, giun chỉ, giun kim. Liều dùng 5-10g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị bệnh tinea, ghẻ, eczema, viêm da, mày đay, viêm âm đạo do trichomonas. Nấu nước để rửa, hoặc nghiền ra và pha thêm giấm để đắp ngoài. Lá dùng đun sôi để rửa và thấm nước lau chữa chốc lở, nhiễm trùng ecpet, mảng tròn, mụn nhọt, viêm da.

__________________________________________________________________

**** plants.usda.gov/java/profile?symbol=MEAZ&photoID=meaz…
**** en.wikipedia.org/wiki/Melia_azedarach
**** ayurvedicmedicinalplants.com/index.php?option=com_zoom&am…

**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18763152
Clin Toxicol (Phila). 2008 Dec;46(10):1067-70. doi: 10.1080/15563650802310929.
Human Melia azedarach poisoning.
Phua DH, Tsai WJ, Ger J, Deng JF, Yang CC.
Source
Emergency Department, Tan Tock Seng Hospital, Singapore.
Abstract
INTRODUCTION:
In traditional Chinese medicine, Melia azedarach (Ku-lian) is used orally and topically as an antiparasitic and antifungal agent. Although toxicity of this plant has been widely described in veterinary literature, human poisoning is rarely reported. We describe five patients with M. azedarach poisoning who recovered with supportive care.
CASE SERIES:
Five patients were identified retrospectively from the database of the Taiwan National Poison Center at the Taipei Veterans General Hospital. Three cases were on-site patients, and two were telephone consultations from outside hospitals. Neurological symptoms were the major manifestation in four cases: weakness, myalgia, numbness, and ptosis. Treatment was symptomatic and supportive; all patients recovered without sequelae.
DISCUSSION:
It is not known which limonoids are responsible for human toxicity. In the Chinese medical literature, human M. azedarach poisoning is said to occur if six to nine fruits, 30 to 40 seeds, or 400 g of the bark is consumed. Onset of symptoms typically occurs within 4-6 h, but as short as 0.5 h had been documented. In our patients, the onset of M. azedarach poisoning was variable, ranging from a few hours to up to 3 weeks after consumption of the herb.
CONCLUSIONS:
M. azedarach poisoning may result in gastrointestinal, cardiovascular, respiratory, or neurological effects, and death in severe cases.
PMID: 18763152 [PubMed – indexed for MEDLINE]

**** www.stuartxchange.com/Paraiso.html
Paraiso
Melia azedarach Linn.
BEAD TREE
K’u Lien

Botany
Paraiso is a shrub or small tree, usually not more than 3 to 4 meters high. Leaves are bipinnate, occasionally tripinnate, 20 to 40 centimeters long. Leaflets are numerous, oblong-ovate, toothed, and 4 to 7 centimeters long. Flowers are fragrant, 5-parted, borne on panicles 10 to 20 centimeters long. Petals are about 1 centimeter long, oblong-spatulate, and pale lilac, while the staminal-tube is usually dark purple and about 7 millimeters long. Fruit is ovoid or subglobose, about 1 centimeter long.

Distribution
– Ornamentally cultivated in Manila and larger towns for its fragrant flowers.
– Nowhere naturalized,
– Introduced in earlier times from China.

Constituents
– Bark yields a bitter substance, named margosin by Cornish, and azadarin by Piddington.
– Study isolated an alkaloid from the bark of the roots – paraisine – soluble in petrol ether, benzene and chloroform.
– Study isolated an oil from the kernels, consisting of butyric and valeric acids 2.31%, stearic acid 21.38%, palmitic acid 12.62%, oleic acid 52.08%, linoleic acid 2.12%. arachidic and liquoceric acids 0.74%

Properties
– Root is very bitter and nauseating.
– Leaves considered anthelmintic, antilithic, diuretic, deobstruent, resolvent.
– Root considered resolvent, deobstruent, vermifuge.
– Bark is considered a bitter tonic, astringent, antiperiodic.
– Fruit considered emollient and purgative.
– Seeds are emetic, laxative, and antihelmintic.
– Expressed oil is pale yellow and bitter tasting, with a garlic-like odor.
– The oil is considered the most active medicinal part of the plant.
– Oil considered stimulant, antiseptic, alterative.

Parts utilized
· Fruits, leaves, bark of roots and bark of trunk.
· Collect fruits from November to April, leaves from May to October, roots and bark the whole year round.
· Remove the outermost bark, rinse, and sun-dry. Cut into sections.

Uses
Folkloric
– Root decoction or fluid extract used as anthelmintic.
– Root bark used as vermifuge; also used for intermittent fevers and dysentery.
– Root bark used in America as a cathartic and emetic.
– In India, before quinine, root bark used for malaria.
– Infusion of bark used as febrifuge especially for periodic fevers; also, for thirst and nausea.
– Poultice of bark used in leprosy and scrofulous ulcers.
– Leaves used in a variety of forms – poultice, wash, ointment or liniment – as external applications to ulcers and skin diseases
– Crushed leaves used as poultice for boils and sores.
– Internally, infusion of fresh leaves used as a bitter vegetable tonic and alterative. (The stools noticed to become a brilliant yellow after use.) Infusion also used for chronic malarial fevers; and as a powerful alterative for chronic syphilitic infections.
– Decoction of leaves used for ; also, for hysteria.
– Juice of leaves used internally as anthelmintic, antilithic, diuretic, and emmenagogue.
– Decoction of leaves used as astringent, anthelmintic and stomachic.
– In Sidh, poultice of leaves used for sprains.
– Paste of flowers used to destroy headlice and associated scalp eruptions. Also, used for prickly heat.
– Poultice of flowers and leaves applied for nervous headaches.
– Fruit used as purgative and emollient; useful for intestinal worms, urinary affections and piles.
– Fruit is considered both tonic and poisonous, and used for leprosy and scrofula; the fruit pulp used as anthelmintic. (The pulp of the fruit, mixed with grease, is reported to kill dogs.)
– Seeds are emetic, laxative and anthelmintic; in Indo-China, used for typhoid fever and urinary retention.
– Oil used for syphilitic sores and indolent ulcers; also, for leprosy, suppurating scrofulous glands and rheumatism.
– Oil used as application for erysipelas, scrofula, and various skin diseases; also, as parasiticide in various cutaneous affects as ringworm and scabies.
– Internally, the oil used for chronic malarial fevers, syphilis, and leprosy.
– In Mauritius, the root bark is used as anthelmintic; in Algeria, as tonic and antipyretic; elsewhere, the heartwood is used to relieve asthma, as emetic or as emmenagogue.
Others
• Insecticidal: Leaf extract has insecticidal property; repels insects in clothing. Powdered dust of fruit, crude extract of wood and bark are also insecticidal.

Studies
• Antibacterial: (1) Study showed the leaves of M. azedarach are effective against both gram positive and gram negative strains of bacteria. (2) Methanol extract of MA flowers showed potent antibacterial action in rabbits with S aureus skin infection. (3) A formulated cream contain Melia azedarach flowers showed a strong potential to cure bacterial infections in young children, comparable to neomycin skin ointment.
• Contraceptive: Ethanolic extract of MA roots prevented pregnancy in 60-75% of female rats with decreased rate of implantation.
• Antioxidant: (1) Study showed the leaves of MA to possess an erythrocyte protective activity against drug-induced oxidative stress. (2) Study showed the extract of Melia azedarach, which contains the highest amount of phenolic compounds, exhibited the greatest anti-oxidant activity compared to A. indica.
• Antifungal: Extracts from different parts of MA exhibited fungistatic activity against A flavus, D phaseolum, F oxysporum, F solani, among others. The ethanolic seed extract showed to be the most active.
• Anthelmintic: Drupe extracts of MA in Argentina showed better activity against tapeworm than standard piperazine phosphate used for Cestodal infections.
• Antiviral: Extract of leaves of MA isolated a limonoid which showed antiviral activity against vesicular stomatitis and herpes simples virus.
• Anti-lithiasis: Study of aqueous extract of MA showed to be effective against ethylene glycol-induced nephrolithiasis in albino rats.
• Anti-Folliculogenesis: Study concludes the polar and non-polar fractions of A indica and M azedarach seed extracts significant reduced the number of follicles in rats, with maximum reduction occurring with the Azadirachta extract.
• Immunomodulatory: Leaf extract from M azedarach L. inhibited phagocytosis of opsonized sheep erythrocytes and the respiratory burst triggered by post-receptor stimuli in human monocytes.
• Antioxidant / Hepatoprotective: Study of the antioxidant and antihepatotoxic activities of the biherbal ethanolic extracts of M azedarach and Piper longum showed potent antihepatotoxic activity against carbon tetrachloride-induced acute toxicity in rat liver. The effect was probably related to its marked antioxidant activity.
• Larvicidal: Ethanolic extract of Melia azedarach showed effective larvicidal activity against Anopheles stephensi, Culex quinquefasciatus and Aedes aegypti. Results suggest a potential use as larvicidal agent to control mosquito populations.
• Hepatoprotective: Study of a methanolic leaf extract of Melia azedarach against paracetamol-induced heptatic damage in rats showed significant hepatoprotective activity.
• Anti-Ulcer: Study of aqueous extract of leaves of Melia azedarach on anti-ulcer activity in aspirin-induced and pylorus-ligated rate showed antiulcer effects comparable to the standard drug Omeprazole.
• Anti-Fertility: Study of Melia azedarach seed extract in adult cyclic Wistar rats showed a reduction in fertility index and average number of embryos in mated rats with associated histological changes. Results suggest the plant extract has a potential use in a rodent control program.

Toxicity
• Report on Human Poisoning: Review of Chinese medical literature reports that human M. azedarach poisoning occur when 6 to 9 fruits, 30 to 40 seeds, or 400 g of bark are consumed. Symptoms occur within 4-6 hrs, or as short as 1/2 hour, consisting of weakness, myalgia, numbness and ptosis. M azedarach poisoning may result in gastrointestinal, cardiovascular, respiratory or neurological effects, and death in severe cases.
• Case Report on a Fatality: There have been scattered reports of human fatalities and non-fatal toxicities: (1) A woman who died after a bark decoction of M azedarach taken for dysmenorrhea. (2) A fatality from a bark decoction enema. (3) Illnesses from decoctions and infusions causing stomatitis, hematemesis, oliguria.
• Animals: Pulp of seeds is fatal to dogs.

Availability
Wild-crafted.

Chinaberry tree, Bead tree, Melia azedarach……Cây Xoan ở Texas…..#6
eczema cures
Image by Vietnam Plants & The USA. plants
Branch of a young tree.

Chụp hình ngày 17-6-2012 tại thành phố Waco, tiểu bang Texas, miền Nam nước Mỹ.

Taken on June 17, 2012 in Waco city, Texas states, Southern of The United States of America.

Vietnamese named : Xoan
Common names : Paraiso (Span., Tag.),,Bead tree (Engl.). Cape syringa (Engl.), China berry (Engl.), Chinese umbrella tree (Engl.), Indian lilac (Engl.), Pride of India (Engl.), K’u Lien (Chin.).
Scientist name : Melia azedarach L.
Synonyms : Melia azedarach L. var. umbraculifera Knox

Family : Meliaceae – Mahogany family
Group : Dicot
Duration : Perennial
Growth Habit : Tree – Shrub
Kingdom : Plantae – Plants
Subkingdom : Tracheobionta – Vascular plants
Superdivision : Spermatophyta – Seed plants
Division : Magnoliophyta – Flowering plants
Class : Magnoliopsida – Dicotyledons
Subclass : Rosidae
Order : Sapindales
Genus : Melia L. – melia
Species : Melia azedarach L. – Chinaberrytree

**** vi.wikipedia.org/wiki/Xoan
Cây xoan hay xoan ta, xoan nhà, xoan trắng, sầu đông, thầu đâu, (danh pháp hai phần: Melia azedarach; đồng nghĩa M. australis, M. japonica, M. sempervivens), là một loài cây thân gỗ lá sớm rụng thuộc họ Xoan (Meliaceae), có nguồn gốc ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Australia.
Cây này tiếng Anh gọi là Chinaberry, Bead tree, Persian lilac (đinh hương Ba Tư), White cedar (tuyết tùng trắng) và một vài tên gọi khác. Tại Nam Phi người ta gọi nhầm nó là Syringa, nhưng đúng ra đó là tên gọi của các loài đinh hương.
Chi Melia bao gồm 4 loài khác nữa, có mặt trong khu vực đông nam châu Á tới miền bắc châu Úc. Tất cả chúng đều là cây thân gỗ nhỏ, thay lá hàng năm.

Miêu tả

Cây trưởng thành cao từ 7 đến 12 m. Hoa xoan có năm cánh, sắc tía nhạt hoặc tím hoa cà, mọc thành chùm. Hoa có hương thơm.
Trái xoan loại quả hạch, to cỡ hòn bi, vỏ có màu vàng nhạt khi chín, không rụng ngay mà giữ trên cành suốt mùa đông. Trái dần chuyển sang màu trắng.
Lá xoan dài tới 50 cm, mọc so le, cuống lá dài với 2 hoặc 3 nhánh lá phức mọc đối; các lá chét có màu lục sẫm ở mặt trên và xanh nhạt hơn ở mặt dưới. Mép lá có khía răng cưa.

Sử dụng

Lá xoan được sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên để bảo quản một số loại lương thực. Vì có độc tính, lá xoan, trái xoan đều không thể ăn được. Ngày xưa nhựa cây và tinh dầu cất từ lá và thân cây khi pha loãng được sử dụng để làm giãn tử cung.
Hoa xoan không hấp dẫn đối với các loài ong bướm. Hạt xoan tròn và cứng thường được dùng làm chuỗi tràng hạt và các sản phẩm tương tự khác trước khi kỹ nghệ plastic thịnh hành và thay thế vật liệu hạt xoan.

Độc tính

Tất cả các bộ phận của cây xoan đều có độc tính đối với con người nếu ăn phải. Yếu tố gây độc là các chất gây ngộ độc thần kinh chứa tetranortriterpen và các loại nhựa chưa xác định; hàm lượng cao nhất chứa trong quả. Một số loài chim có thể ăn quả xoan, nhờ thế mà hạt của xoan được phát tán khi chúng bị đánh rơi, nhưng chỉ cần 15 gam hạt đã là liều gây chết cho một con lợn nặng 22 kg. Các triệu chứng ngộ độc đầu tiên xuất hiện chỉ vài giờ sau khi ăn phải. Các triệu chứng này bao gồm mất vị giác, nôn mửa, táo bón hoặc tiêu chảy, phân có máu, tổn thương dạ dày, sung huyết phổi, trụy tim v.v. Tử vong có thể xảy ra sau khoảng 24 giờ.
Cũng vì có độc tính nên cây xoan còn được trồng để lấy gỗ vì gỗ không bị mối. Hoa và lá xoan thì được dùng rải dưới chiếu để ngừa rệp.[

Một số vấn đề

Dưới đây liệt kê một số vấn đề với các tên gọi khác của cây xoan ta. Trong đó có các tên gọi sầu đâu, khổ luyện, nha đảm (đởm) tử. Các tên gọi này rất dễ làm người ta lẫn lộn các loài cây khác nhau là một.

Sầu đâu
Một số tài liệu gọi cây xoan ta là sầu đâu. Ví dụ trang Web của nhóm huediepchi gọi cây xoan ta là sầu đâu. Tuy nhiên, trang Web của yhoccotruyen coi cây nha đảm (đởm) tức cây xoan rừng (Brucea javanica) thuộc họ Simaroubaceae cùng bộ Bồ hòn là sầu đâu (tên khác: cứt chuột, sầu đâu rừng) với lưu ý "Không nhầm với cây khổ luyện tử (xuyên luyện tử) (Melia toesendan (S et Z.) họ Xoan), cây cao trên 10m. Không nhầm với cây xoan nhà (Melia azedarach (L.) họ Xoan cây cao 8 –10m" hay suckhoedoisong cũng gọi cây sầu đâu (sầu đâu rừng, sầu đâu cứt chuột, hạt khổ sâm, khổ luyện tử, nha đảm tử, chù mền, san đực (Sầm Sơn), cứt cò (Vĩnh Linh), bạt bỉnh (Nghệ An)) là Brucea javanica.
Trong khi đó trang en:Neem lại coi Azadirachta indica cùng họ là cây sầu đâu (có lẽ theo cách gọi tại miền nam Việt Nam) với lá ăn được.

Khổ luyện
Trang Web của alternativehealing.org coi khổ luyện tử (苦楝子) hay kim linh tử (金鈴子) và xuyên luyện tử (川楝子) là một, đều là vị thuốc từ quả của Melia azedarach (L.) sub. var. toosendan Makino hay Melia toosendan (Sieb. et Zucc.).
Trang Web của nhóm huediepchi cũng gọi cây xoan ta là khổ luyện (苦楝). Từ điển Hán Việt Thiều Chửu cũng diễn giải luyện (楝) là cây xoan. Quả nó gọi là khổ luyện tử (苦楝子) dùng làm thuốc lỵ, tục gọi là kim linh tử (金鈴子). Tuy nhiên trang Web của yhoccotruyen có lẽ coi Melia toesendan (S et Z.) và Melia azedarach (L.) là hai loài khác nhau khi chỉ dùng khổ luyện tử cho loài đầu còn loài thứ hai thì chỉ gọi nó là cây xoan nhà.

Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm tính pháp lý cho các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe.
Đề nghị liên hệ và nhận tư vấn từ các bác sĩ hay các chuyên gia.

Nha đảm (đởm) tử
Trang Web của nhóm huediepchi cũng gọi cây xoan ta là nha đảm tử trong khi các trang của Web của suckhoedoisong và yhoccotruyen không cho nha đảm tử là cây này mà coi nha đảm tử là vị thuốc từ quả của Brucea javanica.

**** www.vienduoclieu.org.vn/index.php?option=com_content&…

MELIA AZEDARACH L.
MELIACEAE
XOAN, sầu đâu, khổ luyện, mạy riển (Tày)

MÔ TẢ:
Cây gỗ, cao 10m hoặc hơn. Vỏ thân có rãnh dọc. Lá mọc so le, hai lần lông chim lẻ. Lá chét có răng cưa, nhẵn ở hai mặt. Cụm hoa hình xim hai ngả, gồm nhiều hoa màu trắng, các nhị tập hợp thành ống hình trụ màu tím. Quả hạch hình cầu, khi chín màu vàng, có 4 hạt.
MÙA HOA QUẢ:
Hoa: Tháng 3- 4; Quả: Tháng 6- 8.
PHÂN BỐ:
Cây được trồng phổ biến ở khắp nơi.
BỘ PHẬN DÙNG:
Vỏ rễ. Thu hoạch khi khai thác cây lấy gỗ. Cạo sạch lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy phần vỏ lụa. Phơi hoặc sấy khô. Khi dùng sao hơi vàng.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC:
Vỏ thân và vỏ rễ chứa alcaloid azaridin (margosin), sterol và tanin. Lá có alcaloid paraisin, flavonoid rutin. Hạt chứa dầu gồm các acid stearic, palmitic, oleic và linoleic.
CÔNG DỤNG:
Thuốc tẩy giun đũa, giun kim. Dùng lớp vỏ lụa bên trong vỏ rễ, sao vàng. Người lớn: Ngày 2- 3g bột, trong 3 ngày liền. Trẻ em tuỳ theo tuổi, từ 0,1- 1,5g mỗi ngày. Còn dùng nước sắc thụt âm đạo trị nhiễm ký sinh trùng. Độc tính rất cao, phải cẩn thận khi dùng.

**** www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/show_target.plx?url=/thuocdon…

Xoan – Melia azedarach L., thuộc họ Xoan – Meliaceae.

Mô tả: Cây cao 15-20m, rụng lá mùa đông. Lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, lá chét có chóp nhọn, gốc lệch, ở mép có răng cưa. Hoa nở trước hoặc cùng thời gian với lá non, xếp thành chùy ở nách lá. Hoa màu tím nhạt, thơm hắc, 5-6 lá đài, 5-6 cánh hoa hình dải, 10 nhị dính thành ống hình trụ, phân thùy, với 10-12 bao phấn đính ở kẽ thùy. Có đĩa mật. Bầu 5-6 ô. Quả hạch, vỏ ngoài nạc, vỏ trong hóa gỗ, gồm 4-5 ô, mỗi ô chứa 1 hạt đen.

Ra hoa tháng 2-3

Bộ phận dùng: Vỏ và vỏ rễ – Cortex et Cortex Radicis Meliae. thường gọi là Khổ luyện bì

Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Ấn Độ – Malaixia, mọc hoang và cũng thường được trồng. Thu hái vỏ cây quanh năm, tốt nhất vào đầu mùa mưa, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.

Khi bóc vỏ Xoan cần cạo hết lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy phần vỏ lụa ở giữa. Khi dùng, đem sao vỏ đến hơi vàng.

Thành phần hóa học: Trong vỏ có tanin, muối oxalat, chất margosin; còn có kulactone, kulolactone, kulinone, methyl kulonate, toosendanin.

Tính vị, tác dụng: Xoan có vị đắng, tính lạnh, hơi độc. Nó là loại thuốc làm se và tẩy giun, có đặc hiệu với các loại giun chỉ, giun đũa và giun kim. Cũng có thể trị bệnh nhiệt cấp tính, viêm bàng quang và sán khí.

Cây có độc, nếu uống nhiều, sẽ bị choáng mặt, choáng đầu và co rút gân.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường được chỉ định dùng trị giun đũa, giun chỉ, giun kim. Liều dùng 5-10g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị bệnh tinea, ghẻ, eczema, viêm da, mày đay, viêm âm đạo do trichomonas. Nấu nước để rửa, hoặc nghiền ra và pha thêm giấm để đắp ngoài. Lá dùng đun sôi để rửa và thấm nước lau chữa chốc lở, nhiễm trùng ecpet, mảng tròn, mụn nhọt, viêm da.

__________________________________________________________________

**** plants.usda.gov/java/profile?symbol=MEAZ&photoID=meaz…
**** en.wikipedia.org/wiki/Melia_azedarach
**** ayurvedicmedicinalplants.com/index.php?option=com_zoom&am…

**** www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18763152
Clin Toxicol (Phila). 2008 Dec;46(10):1067-70. doi: 10.1080/15563650802310929.
Human Melia azedarach poisoning.
Phua DH, Tsai WJ, Ger J, Deng JF, Yang CC.
Source
Emergency Department, Tan Tock Seng Hospital, Singapore.
Abstract
INTRODUCTION:
In traditional Chinese medicine, Melia azedarach (Ku-lian) is used orally and topically as an antiparasitic and antifungal agent. Although toxicity of this plant has been widely described in veterinary literature, human poisoning is rarely reported. We describe five patients with M. azedarach poisoning who recovered with supportive care.
CASE SERIES:
Five patients were identified retrospectively from the database of the Taiwan National Poison Center at the Taipei Veterans General Hospital. Three cases were on-site patients, and two were telephone consultations from outside hospitals. Neurological symptoms were the major manifestation in four cases: weakness, myalgia, numbness, and ptosis. Treatment was symptomatic and supportive; all patients recovered without sequelae.
DISCUSSION:
It is not known which limonoids are responsible for human toxicity. In the Chinese medical literature, human M. azedarach poisoning is said to occur if six to nine fruits, 30 to 40 seeds, or 400 g of the bark is consumed. Onset of symptoms typically occurs within 4-6 h, but as short as 0.5 h had been documented. In our patients, the onset of M. azedarach poisoning was variable, ranging from a few hours to up to 3 weeks after consumption of the herb.
CONCLUSIONS:
M. azedarach poisoning may result in gastrointestinal, cardiovascular, respiratory, or neurological effects, and death in severe cases.
PMID: 18763152 [PubMed – indexed for MEDLINE]

**** www.stuartxchange.com/Paraiso.html
Paraiso
Melia azedarach Linn.
BEAD TREE
K’u Lien

Botany
Paraiso is a shrub or small tree, usually not more than 3 to 4 meters high. Leaves are bipinnate, occasionally tripinnate, 20 to 40 centimeters long. Leaflets are numerous, oblong-ovate, toothed, and 4 to 7 centimeters long. Flowers are fragrant, 5-parted, borne on panicles 10 to 20 centimeters long. Petals are about 1 centimeter long, oblong-spatulate, and pale lilac, while the staminal-tube is usually dark purple and about 7 millimeters long. Fruit is ovoid or subglobose, about 1 centimeter long.

Distribution
– Ornamentally cultivated in Manila and larger towns for its fragrant flowers.
– Nowhere naturalized,
– Introduced in earlier times from China.

Constituents
– Bark yields a bitter substance, named margosin by Cornish, and azadarin by Piddington.
– Study isolated an alkaloid from the bark of the roots – paraisine – soluble in petrol ether, benzene and chloroform.
– Study isolated an oil from the kernels, consisting of butyric and valeric acids 2.31%, stearic acid 21.38%, palmitic acid 12.62%, oleic acid 52.08%, linoleic acid 2.12%. arachidic and liquoceric acids 0.74%

Properties
– Root is very bitter and nauseating.
– Leaves considered anthelmintic, antilithic, diuretic, deobstruent, resolvent.
– Root considered resolvent, deobstruent, vermifuge.
– Bark is considered a bitter tonic, astringent, antiperiodic.
– Fruit considered emollient and purgative.
– Seeds are emetic, laxative, and antihelmintic.
– Expressed oil is pale yellow and bitter tasting, with a garlic-like odor.
– The oil is considered the most active medicinal part of the plant.
– Oil considered stimulant, antiseptic, alterative.

Parts utilized
· Fruits, leaves, bark of roots and bark of trunk.
· Collect fruits from November to April, leaves from May to October, roots and bark the whole year round.
· Remove the outermost bark, rinse, and sun-dry. Cut into sections.

Uses
Folkloric
– Root decoction or fluid extract used as anthelmintic.
– Root bark used as vermifuge; also used for intermittent fevers and dysentery.
– Root bark used in America as a cathartic and emetic.
– In India, before quinine, root bark used for malaria.
– Infusion of bark used as febrifuge especially for periodic fevers; also, for thirst and nausea.
– Poultice of bark used in leprosy and scrofulous ulcers.
– Leaves used in a variety of forms – poultice, wash, ointment or liniment – as external applications to ulcers and skin diseases
– Crushed leaves used as poultice for boils and sores.
– Internally, infusion of fresh leaves used as a bitter vegetable tonic and alterative. (The stools noticed to become a brilliant yellow after use.) Infusion also used for chronic malarial fevers; and as a powerful alterative for chronic syphilitic infections.
– Decoction of leaves used for ; also, for hysteria.
– Juice of leaves used internally as anthelmintic, antilithic, diuretic, and emmenagogue.
– Decoction of leaves used as astringent, anthelmintic and stomachic.
– In Sidh, poultice of leaves used for sprains.
– Paste of flowers used to destroy headlice and associated scalp eruptions. Also, used for prickly heat.
– Poultice of flowers and leaves applied for nervous headaches.
– Fruit used as purgative and emollient; useful for intestinal worms, urinary affections and piles.
– Fruit is considered both tonic and poisonous, and used for leprosy and scrofula; the fruit pulp used as anthelmintic. (The pulp of the fruit, mixed with grease, is reported to kill dogs.)
– Seeds are emetic, laxative and anthelmintic; in Indo-China, used for typhoid fever and urinary retention.
– Oil used for syphilitic sores and indolent ulcers; also, for leprosy, suppurating scrofulous glands and rheumatism.
– Oil used as application for erysipelas, scrofula, and various skin diseases; also, as parasiticide in various cutaneous affects as ringworm and scabies.
– Internally, the oil used for chronic malarial fevers, syphilis, and leprosy.
– In Mauritius, the root bark is used as anthelmintic; in Algeria, as tonic and antipyretic; elsewhere, the heartwood is used to relieve asthma, as emetic or as emmenagogue.
Others
• Insecticidal: Leaf extract has insecticidal property; repels insects in clothing. Powdered dust of fruit, crude extract of wood and bark are also insecticidal.

Studies
• Antibacterial: (1) Study showed the leaves of M. azedarach are effective against both gram positive and gram negative strains of bacteria. (2) Methanol extract of MA flowers showed potent antibacterial action in rabbits with S aureus skin infection. (3) A formulated cream contain Melia azedarach flowers showed a strong potential to cure bacterial infections in young children, comparable to neomycin skin ointment.
• Contraceptive: Ethanolic extract of MA roots prevented pregnancy in 60-75% of female rats with decreased rate of implantation.
• Antioxidant: (1) Study showed the leaves of MA to possess an erythrocyte protective activity against drug-induced oxidative stress. (2) Study showed the extract of Melia azedarach, which contains the highest amount of phenolic compounds, exhibited the greatest anti-oxidant activity compared to A. indica.
• Antifungal: Extracts from different parts of MA exhibited fungistatic activity against A flavus, D phaseolum, F oxysporum, F solani, among others. The ethanolic seed extract showed to be the most active.
• Anthelmintic: Drupe extracts of MA in Argentina showed better activity against tapeworm than standard piperazine phosphate used for Cestodal infections.
• Antiviral: Extract of leaves of MA isolated a limonoid which showed antiviral activity against vesicular stomatitis and herpes simples virus.
• Anti-lithiasis: Study of aqueous extract of MA showed to be effective against ethylene glycol-induced nephrolithiasis in albino rats.
• Anti-Folliculogenesis: Study concludes the polar and non-polar fractions of A indica and M azedarach seed extracts significant reduced the number of follicles in rats, with maximum reduction occurring with the Azadirachta extract.
• Immunomodulatory: Leaf extract from M azedarach L. inhibited phagocytosis of opsonized sheep erythrocytes and the respiratory burst triggered by post-receptor stimuli in human monocytes.
• Antioxidant / Hepatoprotective: Study of the antioxidant and antihepatotoxic activities of the biherbal ethanolic extracts of M azedarach and Piper longum showed potent antihepatotoxic activity against carbon tetrachloride-induced acute toxicity in rat liver. The effect was probably related to its marked antioxidant activity.
• Larvicidal: Ethanolic extract of Melia azedarach showed effective larvicidal activity against Anopheles stephensi, Culex quinquefasciatus and Aedes aegypti. Results suggest a potential use as larvicidal agent to control mosquito populations.
• Hepatoprotective: Study of a methanolic leaf extract of Melia azedarach against paracetamol-induced heptatic damage in rats showed significant hepatoprotective activity.
• Anti-Ulcer: Study of aqueous extract of leaves of Melia azedarach on anti-ulcer activity in aspirin-induced and pylorus-ligated rate showed antiulcer effects comparable to the standard drug Omeprazole.
• Anti-Fertility: Study of Melia azedarach seed extract in adult cyclic Wistar rats showed a reduction in fertility index and average number of embryos in mated rats with associated histological changes. Results suggest the plant extract has a potential use in a rodent control program.

Toxicity
• Report on Human Poisoning: Review of Chinese medical literature reports that human M. azedarach poisoning occur when 6 to 9 fruits, 30 to 40 seeds, or 400 g of bark are consumed. Symptoms occur within 4-6 hrs, or as short as 1/2 hour, consisting of weakness, myalgia, numbness and ptosis. M azedarach poisoning may result in gastrointestinal, cardiovascular, respiratory or neurological effects, and death in severe cases.
• Case Report on a Fatality: There have been scattered reports of human fatalities and non-fatal toxicities: (1) A woman who died after a bark decoction of M azedarach taken for dysmenorrhea. (2) A fatality from a bark decoction enema. (3) Illnesses from decoctions and infusions causing stomatitis, hematemesis, oliguria.
• Animals: Pulp of seeds is fatal to dogs.

Availability
Wild-crafted.

Rate this ➜

0 people like this.

Tags: , , ,

No comments.

Leave a Reply